Sau giờ Ngọ, Bùi Khâm đã hai lần tìm cớ rời chiếc ghế dài ngoài hiên y quán. Lần đầu hắn muốn thử thương bằng tay phải, lần sau muốn đi xem sơn la; Tống Thanh Y lần lượt đưa cho hắn bát thuốc rồi nhờ Hứa thúc dắt cả hai con vật tới tận hiên. Đến lần thứ ba, Bùi Khâm không nói gì, chỉ chống thương đứng dậy.
Tống Thanh Y đặt nắp hộp thuốc xuống bàn. “Nếu ngươi bước qua cổng, ta sẽ ghi vào thẻ nhiệm vụ rằng thương thế nặng thêm do bệnh nhân không nghe lời.”
Bùi Khâm đứng yên một lúc rồi ngồi lại. “Ta bắt đầu hiểu vì sao người của Dược đường ít khi cần đánh nhau.”
“Vì chúng ta biết chỗ nào đau khi ấn xuống.”
Lâm Tẫn ngồi ở chiếc bàn bên cạnh, đang chia phần chu sa còn lại thành hai gói nhỏ. Hắn không chen vào. Từ lúc trở về sau sự cố Bờ Cũ, Bùi Khâm chưa trách hắn thêm câu nào, nhưng sự yên lặng giữa hai người vẫn có một đường ranh mới. Nó không sắc tới mức cắt đứt thứ gì. Chỉ đủ để mỗi quyết định tiếp theo phải được đặt xuống cẩn thận hơn trước.
Tiếng chó sủa từ phía tây thôn vang lên đúng lúc Lâm Tẫn buộc xong gói chu sa thứ hai. Không phải một con; cả một dãy tiếng sủa nối nhau từ sau vườn dâu tới bãi lau, sau đó đột ngột chuyển thành những tiếng tru ngắn. Gần như cùng lúc, một đứa trẻ chạy qua cổng y quán, thở không ra hơi.
“Đèn đỏ phía tây vừa tắt rồi, cái gần nhà họ Từ!”
Lâm Tẫn đứng bật dậy. “Đèn nào?”
“Cái gần nhà họ Từ. Vừa sáng rất mạnh, rồi phụt một cái. Hứa thúc bảo cháu chạy tới gọi các huynh.”
Tống Thanh Y đã cầm túi thuốc lên trước khi đứa trẻ nói hết. Nàng quay sang Bùi Khâm. “Ngươi được đi, nhưng chỉ để giữ một điểm cố định. Không xoay thương, không quét ngang, không đỡ lực bằng vai trái.”
Bùi Khâm nhấc cây thương bằng tay phải. “Ta chưa từng thấy một lời cho phép dài như vậy.”
“Vì ngươi vừa nghe lời dặn xong đã định quên.”
Ba người rời y quán cùng đứa trẻ. Trên đường, Lâm Tẫn nhìn thấy người trong thôn đã bắt đầu kéo trẻ nhỏ và gia súc về phía đông. Hứa thúc đứng ở ngã ba, tay cầm chiếc mõ gỗ dùng báo thú, đang chỉ người của bảy hộ phía tây chuyển sang sân nhà lớn cạnh y quán.
“Đèn thứ ba cháy sáng bất thường rồi tắt,” ông nói khi thấy họ. “Viên đá tụ linh nứt làm đôi. Ta vừa tới thì nghe dưới bãi lau có tiếng lợn rừng. Không phải một hai con.”
Lâm Tẫn nhìn về phía đồng tây. Gió đang thổi ngược từ thôn ra ruộng, mang theo mùi cỏ khô và một thứ tanh hăng quen thuộc của thú hoang. Xa hơn, bãi lau lay thành từng mảng dù gió không đủ mạnh để ép ngọn lau thấp như vậy.
“Các hộ ngoài cùng đã rút hết chưa?” Tống Thanh Y hỏi.
“Còn nhà họ Lý. Bà cụ không đi nhanh được, con dâu đang cõng. Nhà họ Từ còn hai đứa nhỏ với một người sốt từ sáng.”
“Đưa tất cả về sân lớn. Đừng mang đồ nặng.” Nàng đưa túi thuốc cho Hứa thúc. “Ai ngã hay bị cắn thì gọi ta. Những người còn lại mang nồi sắt, mõ, đuốc ra nhưng không tự đuổi thú.”
Bùi Khâm dùng đầu thương chỉ con đường hẹp giữa hàng dâu và mương. “Nếu đàn thú từ bãi lau lên, chúng sẽ bị ép vào đây. Ta giữ chỗ này được.”
Tống Thanh Y nhìn vai trái của hắn.
“Ta nói giữ, không nói đánh đẹp.” Bùi Khâm đổi tay cầm thương thấp hơn. “Đâm thẳng bằng tay phải vẫn được.”
Lâm Tẫn đi tới chân chiếc đèn đã tắt. Lồng đồng còn ấm, nhưng viên đá tụ linh bên trong đã nứt từ giữa. Phù cảnh giới hắn vá hôm qua cháy đen gần hết một cạnh. Không phải lỗi của nét vá; dòng linh lực đi qua nó mạnh hơn mức viên đá cũ có thể chịu.
Hắn nhìn ba điểm cảnh giới còn lại. Nếu tháo đá từ một đèn khác sang đây, tuyến phía nam sẽ hở. Nếu dùng một trong bốn tờ linh chỉ trống vẽ phù mới, họ vẫn thiếu nguồn linh lực để kích nó đủ xa. Một chiếc đinh trận yếu cũng không thể dựng lại tiểu trận ba điểm như hôm đánh độc nha chồn.
Tiếng động trong bãi lau lớn hơn. Một con lợn rừng đen sẫm phá qua lớp lau đầu tiên, lớn hơn lợn nhà gần gấp rưỡi, hai nanh ngắn phủ một lớp linh quang đục. Sau nó còn thêm ba bóng đen, rồi năm. Chúng không lao thẳng về phía thôn ngay mà chạy xiên dọc bãi lau; tới gần dải đất súc vật vẫn né, cả đàn đồng loạt đổi hướng, chen ép nhau về phía hàng dâu.
Dị tượng không tấn công người; nó chỉ khiến mọi thứ sống quanh nó phải tìm một đường khác, và đường khác hôm nay dẫn thẳng vào nhà dân.
“Chín con,” Bùi Khâm nói. Hắn đã đứng ở lối hẹp, cán thương tựa sát hông để tránh dùng vai trái. “Có thể còn phía sau.”
“Đừng giữ bằng sức.” Tống Thanh Y đưa cho hắn lọ bột xua thú gần cạn. “Rắc thành nửa vòng. Chỉ cần chúng chậm lại.”
Hứa thúc và mấy người trong thôn bắt đầu gõ nồi, đánh mõ từ sau hàng rào. Hai con đầu đàn khựng lại, nhưng những con phía sau vẫn dồn tới. Bột thuốc làm chúng nghiêng đầu, hắt hơi, chưa đủ khiến cả đàn quay lại vì phía bên kia dải trống khiến chúng sợ hơn mùi thuốc trước mặt.
Bùi Khâm đâm một mũi thương thẳng xuống đất ngay trước chân con đầu đàn. Mũi thương không chạm thịt nhưng linh lực bật lên làm bùn văng vào mõm nó. Con thú đổi hướng, va sang bên cạnh. Hắn lập tức rút thương, không xoay người, lùi nửa bước để giữ vai trái yên.
“Ta giữ được vài con,” hắn nói. “Không giữ được cả đàn nếu chúng cùng ép.”
Tống Thanh Y nhìn hai người cuối cùng của nhà họ Lý đang rời khỏi ngõ. Bà cụ trên lưng người con dâu thở dốc, phía sau còn một nam nhân kéo theo đứa bé chừng sáu tuổi. Từ chỗ họ tới sân lớn vẫn còn hơn trăm bước.
“Cần thêm ít nhất một khắc mới đưa hết người vào sân lớn,” Tống Thanh Y nói.
Lâm Tẫn biết cách an toàn nhất cho ba người là rút về ngã ba, bỏ bốn căn nhà phía tây và dùng hàng rào sân lớn làm điểm giữ. Người cuối cùng có thể phải chạy. Bùi Khâm sẽ không giữ nổi lối hẹp quá lâu với một vai bị khóa, còn Tống Thanh Y phải ở cùng dân.
Trong đầu Lâm Tẫn có một cách khác. Khi hắn nhìn chân đèn gỗ, bờ mương và góc tường đá nhà họ Từ, ba điểm ấy tự nối thành một hình quen thuộc. Một lớp ký ức cũ từng dùng cách này khi thiếu trận kỳ: mượn vật cố định làm mắt, dùng một điểm có linh lực làm khóa, rồi nối chúng thành một ranh giới giả khiến thú cấp thấp không muốn bước qua. Nó không tạo tường, chỉ bẻ hướng di chuyển.
Hôm qua hắn có thể đã im lặng rồi làm. Hôm nay Lâm Tẫn quay lại nhìn hai người còn lại. “Ta có một cách có thể giữ chúng lệch khỏi lối này thêm một lúc.”
Bùi Khâm không nhìn khỏi đàn thú. “Cách Tê Hà?”
“Không.” Lâm Tẫn nói rõ từng phần cần thiết. “Là cấu trúc ta nhớ được sau Khai Mệnh. Ta chưa học nó ở đời hiện tại, cũng chưa từng thử với thân thể này. Ta có thể hạ nó xuống quy mô rất thấp, chỉ mượn ba điểm cố định để dọa đàn thú lệch hướng. Nhưng nếu dùng, ta có thể bị lẫn ký ức hoặc phản ứng không đúng trong một lúc.”
Bùi Khâm quay đầu nhìn hắn lần đầu tiên từ khi đàn thú xuất hiện. Giữa hai người chỉ có một nhịp ngắn.
“Ngươi cần chúng ta biết gì để không chết vì nó?”
“Đừng bước qua đường chu sa ta vẽ. Nếu ta bắt đầu không nhận ra các ngươi, kéo ta rời khỏi điểm khóa và đừng để ta tiếp tục vận linh lực.”
Tống Thanh Y hỏi: “Cấu trúc này có lấy linh lực trực tiếp từ ngươi không?”
“Có, nhưng phần chính mượn từ ba đèn còn sáng. Ta chỉ nối dòng và giữ điểm khóa.”
“Nếu đau đầu, mất phương hướng hoặc nghe thấy thứ không có thật, nói ngay.”
“Nếu xuất hiện một trong những dấu đó, ta sẽ nói ngay.”
Tống Thanh Y nhìn hắn thêm một nhịp rồi mới gật đầu. “Ta cần ngươi làm đúng câu vừa nói, không phải tự chịu thêm vài hơi rồi mới báo.”
Lâm Tẫn gật đầu. “Được. Ta sẽ không tự giữ thêm vài hơi rồi mới báo.”
Bùi Khâm nhấc mũi thương lên vừa đủ đẩy một con lợn rừng lệch khỏi lối. “Vậy làm đi. Phần cần nói ngươi đã nói.”
Lâm Tẫn lấy chiếc đinh trận cuối cùng ra, cắm nó vào khoảng đất giữa chân đèn hỏng và bờ mương, sâu hơn bình thường một đốt tay. Hai tờ linh chỉ trống được gấp lại, một tờ kẹp dưới chân đèn còn sáng phía nam, tờ kia dán vào góc tường đá nhà họ Từ. Không có trận kỳ hay linh thạch riêng; hắn chỉ có ba vật cố định, một chiếc đinh yếu và phần chu sa còn lại sau sự cố Bờ Cũ. Với trận pháp Tê Hà mà hắn đã học, từng ấy không đủ tạo một đường chắn. Ký ức kia lại bảo đủ.
Lâm Tẫn quỳ một gối xuống, chấm bút vào chu sa rồi vẽ nét đầu tiên từ chân đinh về phía mương. Nét này hắn hiểu: dẫn linh lực dọc mặt đất, giống cách nối hai mắt trận đơn giản. Nét thứ hai vòng ngược về chân đèn, hắn cũng có thể phân tích bằng kiến thức hiện tại dù góc nghiêng hơi lạ.
Đến nét thứ ba, bàn tay hắn dừng lại. Trong đầu, một nền đá khác phủ lên lớp đất Bình Dã. Không có hàng dâu hay mái nhà họ Từ, chỉ có một bức tường thấp ướt mưa, những ngọn đèn đỏ treo dọc lối đi và tiếng người chạy phía sau. Hắn biết nếu kéo bút từ trái sang phải rồi gập ngược ở cuối nét, ba điểm rời sẽ cùng đáp lại như một đường.
Hắn nhớ quá rõ kết quả nhưng không biết vì sao cấu trúc ấy phải vận hành như vậy. Thứ bị thiếu không phải động tác, mà là quãng đường từ học đến hiểu.
“Lâm Tẫn!”
Tiếng Bùi Khâm kéo hắn về. Một con lợn rừng đã vượt qua lớp bột thuốc, chỉ còn cách lối hẹp hơn mười bước. Bùi Khâm đâm thẳng một thương vào vai nó, không xoay cán. Mũi thương chỉ rạch một đường nông nhưng đủ làm con thú lệch sang mép mương. Vai trái của hắn giật một cái dù đã cố giữ yên.
Lâm Tẫn nhìn người con dâu nhà họ Lý vẫn đang cõng bà cụ phía sau. Hắn hạ bút, kéo nét thứ ba qua đất.
Linh lực trong kinh mạch không bùng lên mạnh. Trái lại, nó bị kéo thành một sợi rất mảnh, đi từ đầu ngón tay qua bút rồi chạm vào chu sa. Chiếc đinh trận rung lên. Đèn phía nam sáng đỏ. Sau đó chiếc đèn xa hơn ở góc vườn dâu cũng chớp một nhịp, dù giữa hai đèn không có trận tuyến Tê Hà nào nối trực tiếp.
Đường chu sa trước mặt Lâm Tẫn nóng lên nhưng không phát sáng. Dù vậy, đàn lợn rừng cùng dừng.
Con đầu đàn giậm hai chân trước, cúi đầu ngửi đất rồi lùi lại như vừa chạm phải mùi của một con yêu thú mạnh hơn. Những con phía sau đâm vào nó, rối thành một cụm. Bùi Khâm không bỏ cơ hội. Hắn dùng cán thương và tiếng quát ép con ngoài cùng quay về phía bãi lau.
“Có tác dụng!” Hứa thúc hét từ sau hàng rào.
“Đừng tới gần!” Lâm Tẫn nói.
Hắn giữ tay trên đinh trận. Cấu trúc cũ không đòi nhiều linh lực như hắn sợ, nhưng nó đòi một thứ khác: sự chính xác. Mỗi khi một con thú tiến gần đường chu sa, ba điểm cố định phải đáp lại theo cùng một nhịp. Chỉ cần một điểm chậm, cảm giác “ranh giới” sẽ vỡ.
Lâm Tẫn biết nhịp đó mà không cần đếm, và chính sự quen thuộc không cần học ấy khiến hắn lạnh người.
Mưa lạnh lại xuất hiện trong mũi hắn dù trời Bình Dã đang khô. Tiếng mõ của dân làng biến thành tiếng kim loại va ở một nơi khác. Trong một thoáng, bờ mương sâu hơn, hàng dâu cao thành những cột gỗ đen, còn lối hẹp Bùi Khâm đang giữ biến thành cổng nhỏ giữa hai vách đá.
“Lâm Tẫn, ngươi đang ở Bình Dã.” Tống Thanh Y nói từ phía sau. Giọng nàng không lớn, nhưng từng chữ rất rõ. “Ngươi đang giữ đường phía tây cho dân rút.”
“Ta biết.”
Hắn nghe câu trả lời của mình xa hơn bình thường.
Một con lợn rừng non bất ngờ chen qua giữa hai con lớn. Nó không đi đúng vào đường chu sa mà nhảy lên bờ mương, nơi cấu trúc chỉ còn tác dụng yếu. Bùi Khâm lập tức chuyển thân nhưng bị Tống Thanh Y quát từ xa.
“Không xoay vai!”
Bùi Khâm đổi thành một bước thẳng, chống cán thương xuống như cọc. Con thú đâm vào cán, lực va đẩy hắn trượt nửa bước. Hắn nghiến răng nhưng giữ được mũi thương không quét ngang.
Lâm Tẫn không thể rời điểm khóa.
“Hứa thúc, nồi sắt bên trái!” hắn gọi.
Hứa thúc cùng hai người trong thôn lập tức nện ba chiếc nồi vào nhau. Tiếng chát đột ngột khiến con thú giật mình. Bùi Khâm dùng đúng nhịp đó chọc cán thương vào dưới hàm nó, đẩy đầu sang bên. Con lợn rừng trượt xuống mép mương rồi bỏ chạy theo những con khác.
Người cuối cùng của nhà họ Lý qua được ngã ba.
Tống Thanh Y giơ tay. “Đủ rồi. Rút điểm khóa.”
Lâm Tẫn nghe thấy nàng.
Nhưng trong ký ức khác, ranh giới vẫn chưa thể rút. Sau bức tường mưa kia còn người chưa qua. Một ngọn đèn đỏ cuối lối đang tắt dần. Hắn biết mình phải giữ thêm mười ba nhịp, phải đợi tiếng chuông thứ hai, phải—
“Lâm Tẫn.” Bùi Khâm gọi tên hắn. Lâm Tẫn ngẩng đầu.
Người cầm thương trước mặt không khớp với cảnh trong đầu. Quần áo sai. Chiều cao sai. Cách giữ thương cũng sai. Nhưng cơ thể hắn vẫn lùi nửa bước, bàn tay trái dựng lên trước ngực theo một thế phòng thủ mà Lâm Tẫn của Tê Hà chưa từng luyện.
Bùi Khâm dừng ngay tại chỗ.
“Ta không qua đường chu sa,” hắn nói. Giọng bình tĩnh hơn bình thường. “Ngươi nhìn ta cho rõ.”
Lâm Tẫn nhìn cây thương, rồi nhìn băng vải chéo qua vai trái của người kia. Trong đầu, một lớp hình ảnh cố gắn một thân phận khác lên khuôn mặt quen thuộc nhưng không thành.
Tống Thanh Y bước vào tầm nhìn của hắn từ bên phải, không chạm vào người. Nàng giữ khoảng cách đủ xa rồi hỏi: “Ngươi tên gì?”
Lâm Tẫn thở một lần. “Lâm Tẫn.”
“Đây là đâu?”
Hắn nhìn mái nhà thấp, hàng dâu và đường chu sa dưới đất. Phải mất hai nhịp câu trả lời mới tới được miệng. “Bình Dã.”
“Người cầm thương là ai?”
Lâm Tẫn nhìn lại. Lần này lớp cảnh mưa mờ đi một chút. “Bùi Khâm.”
“Bùi Khâm bị thương ở đâu?”
“Cẳng tay trái. Vai trái bị kéo cơ. Hai ngày không được xoay thương toàn thân.”
Bùi Khâm thở ra qua mũi. “Ít nhất trí nhớ của ngươi đối với lời dặn của Dược đường còn tốt hơn ta.”
Tống Thanh Y không để câu đùa kéo nhịp đi. “Chúng ta đang làm gì?”
“Giữ dân Bình Dã rời tuyến phía tây.”
“Đã rời hết chưa?”
Lâm Tẫn nhìn qua vai nàng. Sân lớn phía đông đã đóng cổng. Hứa thúc đang đếm từng hộ. Không còn ai trên lối nhỏ.
“Rồi.”
“Vậy rút linh lực khỏi đinh.”
Lâm Tẫn cúi xuống.
Bàn tay đặt trên đinh trận không muốn buông. Không phải vì hắn cố chấp. Chỉ là phản xạ trong ký ức vẫn đang chờ một tín hiệu không tồn tại ở Bình Dã.
Hắn dùng cách đơn giản nhất mình đã học ở Tê Hà: ngắt hơi vận công, ép đầu lưỡi lên vòm miệng, rút linh lực về đan điền từng đoạn thay vì cắt đột ngột. Dòng nối giữa ba điểm chậm dần. Đèn phía nam tắt bớt màu đỏ. Tờ linh chỉ ở góc tường cuộn lại vì nóng rồi cháy một mép.
Chiếc đinh trận cuối cùng phát ra một tiếng nứt rất nhỏ.
Khi Lâm Tẫn rút tay, hắn phải chống bàn xuống đất mới giữ được người thẳng. Đau đầu đến chậm hơn phản lực kinh mạch, nhưng sâu hơn. Nó không giống thương tích. Giống như có ai đó vừa mở cùng lúc hai căn phòng trong đầu rồi quên đóng một cánh cửa.
Tống Thanh Y ngồi xuống trước mặt hắn. “Có nhìn đôi không?”
“Không.”
“Có nghe tiếng không tồn tại?”
Lâm Tẫn im một nhịp. “Có. Mưa. Và một tiếng chuông.”
“Ở đây không mưa.”
“Ta biết.”
“Bây giờ còn nghe không?”
Hắn lắng một lúc. “Không.”
Tống Thanh Y bắt mạch hắn ngay trên đất. Linh lực không nghịch hành, nhưng nhịp mạch nhanh hơn bình thường. Nàng kiểm tra đồng tử, bắt hắn nhìn lần lượt đầu ngón tay trái rồi phải, sau đó mới đứng lên.
“Ngươi không được dùng lại cấu trúc vừa rồi trong nhiệm vụ này.”
Lâm Tẫn không tranh luận. “Được.”
Bùi Khâm chống thương đứng cách đó vài bước. “Thứ đó là một trong những thứ ngươi nhớ sau Khai Mệnh?”
“Phải. Ta nhớ được cấu trúc và có thể dùng, nhưng đời này ta chưa từng học quá trình tạo ra nó.”
Bùi Khâm nhìn nét chu sa kéo qua đất rồi nhìn hắn. “Dùng được thì ta đã thấy. Vấn đề là vừa rồi ngươi nhìn ta như người chưa từng gặp.”
Lâm Tẫn không tìm được câu nào nhẹ hơn sự thật. “Trong vài nhịp, ta không biết ngươi là Bùi Khâm.”
Khoảng lặng lần này khác với khoảng lặng sau Bờ Cũ. Không còn là một câu hỏi bị giấu. Cả ba đều đã nhìn thấy phần trả lời.
Hứa thúc từ phía ngã ba chạy tới báo đã đủ người. Đàn lợn rừng không quay lại; chúng vòng xa về phía chân núi, để lại bãi lau bị quật thành một đường xiên lớn. Không có dân thường bị thương. Bùi Khâm bị đau vai tăng nhẹ do hai lần chống lực, nhưng Tống Thanh Y kiểm tra ngay và xác nhận chưa có dấu rách cơ mới.
Chi phí của trận lại rõ hơn khi Lâm Tẫn thu vật tư. Hai tờ linh chỉ đã cháy mép không thể dùng lại. Chiếc đinh trận cuối cùng có một đường nứt dọc thân, linh lực truyền vào gần như không đáp. Chu sa trong gói nhỏ chỉ còn đủ vài nét phù đơn giản. Ba đèn còn sáng vẫn hoạt động, nhưng đèn thứ ba đã mất viên đá tụ linh và không thể sửa bằng những thứ họ đang có.
Bùi Khâm nhìn đống vật tư nằm trên tấm vải. “Ba mươi công điểm của chúng ta càng lúc càng giống một câu chuyện truyền miệng.”
Lâm Tẫn xoa thái dương. “Nếu trở về tay trắng, ít nhất ngươi còn một cây thương xước thêm một đường.”
“Cảm ơn. Ta thấy được an ủi rất nhiều.”
Tống Thanh Y đang buộc lại vai cho hắn, kéo nút chặt hơn một chút.
Bùi Khâm lập tức đổi giọng. “Nhưng tất nhiên sống sót và cứu được người mới là phần thưởng quan trọng nhất.”
Hứa thúc đứng cạnh không hiểu vì sao Lâm Tẫn quay mặt đi.
Đến lúc mọi người trở lại y quán, mặt trời đã bắt đầu nghiêng về phía rặng dâu. Tống Thanh Y bắt Lâm Tẫn nằm nghỉ một khắc trong gian phòng trống, không cho đọc sổ hay thử lại trận. Hắn nhắm mắt nhưng không ngủ. Mỗi khi gần thả lỏng, mùi mưa lạnh lại thoáng qua rồi mất.
Sau một khắc, hắn ra sân rồi quay lại phía tây thôn. Nét trận vẫn còn đó, chu sa đã khô thành một đường nâu đỏ trên đất và chân tường. Phần lớn cấu trúc rất đơn giản: hai nét dẫn mà bất kỳ đệ tử phù–trận Tê Hà nào học đủ lâu cũng có thể hiểu. Chỉ có nét thứ ba, đoạn gập ngược ở cuối, khiến ba điểm rời rạc cùng đáp lại như một ranh giới duy nhất. Lâm Tẫn ngồi xổm trước nó rất lâu.
Hắn nhớ mình đã đặt bút ở đâu. Nhớ lực cổ tay, độ nghiêng đầu bút, nhịp linh lực chạy qua ngón trỏ. Nếu bắt hắn vẽ lại trên giấy, có lẽ hắn vẫn làm được.
Nhưng Lâm Tẫn của hai mươi năm đời này chưa từng được ai dạy nét đó.
Hắn lấy sổ ra, không chép lại cấu trúc. Chỉ ghi dưới mục đã kiểm chứng: Có thể dùng. Giá phải trả không chỉ là linh lực. Xuất hiện chồng giác quan và nhầm quan hệ hiện tại trong vài nhịp. Viết xong, hắn đóng sổ.
Từ sân y quán, Tống Thanh Y gọi hắn trở về trước khi trời xuống hẳn. Lâm Tẫn đứng dậy, phủ một lớp đất mỏng lên phần chu sa còn lộ để trẻ con không vô tình giẫm vào.
Nét gập cuối cùng vẫn còn một đoạn chưa bị che hết, mảnh và hơi lệch về trái. Chính tay hắn đã vẽ nó, nhưng kỹ thuật dẫn bàn tay ấy không đến từ cuộc đời mà hắn đang sống.