Đến lúc mặt trời chạm gần ngọn dâu phía tây, Bình Dã vẫn chưa có vẻ gì giống một nơi sắp gặp chuyện lớn.
Khói bếp đã bắt đầu bay lên từ mấy mái nhà thấp. Người ngoài đồng gánh nốt những bó kê về sân, trẻ con bị gọi vào nhà sớm hơn thường ngày vì chuyện độc nha chồn, còn hai con sơn la của Tê Hà được buộc trong sân y quán, cách xa đồng tây. Chỉ có đám chó trong thôn là khác. Chúng nằm ngoài hiên, tai dựng về cùng một hướng, thỉnh thoảng lại ngẩng đầu nhìn khoảng ruộng sau ba cây liễu rồi hạ mõm xuống chân trước.
Lâm Tẫn đứng dưới mái hiên y quán, nhìn bản đồ thôn mà người phụ trách vừa vẽ bằng than lên một tấm ván cũ.
“Bình Dã có bốn đèn cảnh giới ở phía tây?” hắn hỏi.
“Trước đây là sáu.” Người phụ trách y quán chỉ từng chấm đen trên tấm ván. “Hai cái gần bãi lau hỏng từ mùa mưa năm ngoái. Bốn cái còn lại đủ báo động nếu thú mang linh khí xuống gần nhà. Mấy năm nay ít chuyện nên thôn chỉ thay bấc và chu sa lúc cần.”
Bùi Khâm tựa cây thương bên cột, nghe tới đó thì cau mày. “Sáng nay độc nha chồn đã vào tận ruộng mà không ai thấy đèn báo?”
“Không.”
“Vậy hoặc chúng đi vòng ngoài tuyến đèn, hoặc đèn không còn hoạt động như các người nghĩ.”
Lâm Tẫn nhìn bốn vị trí. Ba điểm nằm thành một vòng cung khá đều phía tây thôn. Điểm thứ tư lại ở gần con mương, đúng nơi dải dấu chân thú đã uốn cong tránh qua lúc chiều.
Hắn không cần ký ức nào khác để biết một tuyến cảnh giới có lỗ hổng thì đèn sáng đẹp đến mấy cũng vô dụng.
“Chúng ta kiểm từng cái trước khi tối.” Lâm Tẫn gõ đầu ngón tay lên tấm ván. “Không cần sửa thành trận phòng thủ. Chỉ cần bảo đảm nếu có thứ từ đồng tây tiến vào, người trong thôn nhận được cảnh báo đủ sớm.”
Bùi Khâm cầm lại thương. “Ta đi với ngươi. Tống Thanh Y còn bảy người bệnh.”
Từ trong gian khám, giọng Tống Thanh Y vọng ra đúng lúc ấy. “Còn sáu. Một người chỉ mất ngủ vì ho ba đêm, không liên quan chuyện này.”
Bùi Khâm nhìn cửa. “Ngươi nghe từ trong đó?”
“Ngươi nói đủ lớn để người ở cuối thôn cũng nghe.”
Một lát sau Tống Thanh Y bước ra, đưa cho họ hai cuộn vải đỏ và một lọ nhỏ đựng bột thuốc xua thú. “Ta chưa đi cùng được. Hai người đánh dấu rõ những chỗ không muốn dân tới gần. Đừng chỉ cắm một cành cây rồi nghĩ ai cũng hiểu ý.”
Bùi Khâm nhận cuộn vải. “Lâm Tẫn vốn định đánh dấu bằng ánh mắt.”
“Ta mang dây.” Lâm Tẫn nói.
“Ta biết. Cả thôn đều sắp biết.”
Tống Thanh Y không cười. Nàng nhìn thẳng Lâm Tẫn. “Ngoài đứa bé, ta vừa gặp thêm hai người có mộng lạ. Một người chỉ nhớ tiếng nước chảy dưới chân dù nhà ở xa mương. Người còn lại nhớ một hàng cây nhưng không nói được cây gì. Chưa có chi tiết đủ để ghép với cây cầu.”
“Triệu chứng khác nhau?”
“Khá khác.” Tống Thanh Y đáp đầy đủ hơn. “Mạch không giống nhau, không cùng dùng thuốc, thức ăn cũng không trùng hoàn toàn. Hai người có sốt nhẹ nhưng có thể chỉ vì mất ngủ. Ta chưa thấy dấu của một loại độc quen thuộc. Tối nay ta sẽ theo dõi thêm.”
Lâm Tẫn gật đầu. Điều đó chưa loại được gì nhiều, nhưng ít nhất nó ngăn họ quá sớm biến một lời giải thuận mắt thành đáp án duy nhất.
Hắn và Bùi Khâm rời y quán khi nắng vẫn còn trên mái nhà. Người phụ trách thôn cử một nam nhân khoảng bốn mươi tuổi đi cùng. Người này chuyên thay bấc cho đèn cảnh giới và sửa hàng rào ruộng, họ Hứa, mọi người chỉ gọi là Hứa thúc.
Đèn đầu tiên nằm ở góc vườn dâu phía nam. Nó là một trụ gỗ cao ngang ngực, trên treo lồng đồng nhỏ bằng hai bàn tay. Bên trong có một mảnh linh chỉ đã ngả vàng, bấc đèn quấn quanh viên đá tụ linh cấp thấp. Khi yêu thú mang linh khí đi qua khoảng gần, viên đá nóng lên, đốt bấc và làm phù sáng đỏ.
Cơ chế đơn giản, rẻ, đủ dùng với một thôn nằm trong phạm vi bảo hộ của Tê Hà. Lâm Tẫn tháo lồng đồng xuống. Mảnh phù đã mốc ở góc nhưng đường chính còn nguyên. Hắn thay bấc, cạo lớp gỉ quanh chân kẹp rồi truyền vào một tia linh lực. Ánh đỏ lóe lên trong lồng, không mạnh nhưng ổn định.
“Cái này còn dùng được.” Hắn trả lồng về chỗ cũ. “Không cần phí phù mới.”
Bùi Khâm đứng ngoài hàng dâu nhìn đồng ruộng. “Nghe câu đó từ ngươi, ta thấy ba mươi công điểm có hy vọng sống tới lúc về Tê Hà.”
“Công điểm chưa về tay chúng ta.”
“Cho nên càng phải để chúng sống trong tưởng tượng thêm một lúc.”
Đèn thứ hai hỏng nặng hơn. Gió mùa trước đã làm nứt mái che, nước ngấm vào khiến chân phù đen một nửa. Hứa thúc định lấy mảnh phù dự phòng trong túi, nhưng Lâm Tẫn ngăn lại. Phù mới chỉ có ba tờ, dùng hết ở đây thì phía bắc thôn không còn thứ thay.
Hắn lấy chiếc đinh trận đã nứt khỏi túi, bẻ bỏ phần đầu không còn giữ linh được rồi dùng đoạn kim loại còn lại ép lại thanh kẹp bên trong lồng. Sau đó hắn cắt phần phù đã cháy, nối đường dẫn bằng một nét chu sa đơn giản của Tê Hà.
Bùi Khâm nhìn động tác của hắn. “Thứ chiều nay dùng đánh chồn, giờ chuyển sang sửa đèn.”
“Ít nhất nó không phải kê chân bàn.”
“Ta bắt đầu thấy tiếc chiếc thứ tư ngươi để ở nhà.”
Lâm Tẫn thử đèn lần nữa. Ánh đỏ bật lên chậm hơn đèn trước một nhịp nhưng vẫn đủ báo hiệu. “Chiếc này chỉ dùng tạm tối nay. Mai phải thay phù.”
Hứa thúc gật đầu, ghi nhớ rất nghiêm túc. Ông không biết lời đùa về chiếc đinh thứ tư, cũng không hỏi.
Đến đèn thứ ba, họ đã ra sát đồng tây. Những cọc gỗ Lâm Tẫn cắm lúc chiều còn ở nguyên vị trí, tạo thành bốn dấu rời rạc không nối với nhau. Bùi Khâm buộc vải đỏ lên từng cọc, cố ý để phần đuôi dài đủ nhìn thấy khi trời tối.
Hứa thúc đi sau, lúc nhìn tới cọc gần con mương thì bất chợt dừng lại. “Cắm chỗ này hơi vướng đường.”
Lâm Tẫn đang kiểm tra đá tụ linh trong đèn, tay không dừng. “Đường nào?”
Hứa thúc chỉ về phía trước theo phản xạ. “Đường ra cầu. Trước kia xe chở lúa vẫn...” Ông im bặt.
Bùi Khâm quay hẳn lại. Hứa thúc vẫn giữ tay trong không trung, vẻ mặt từ chắc chắn chuyển sang ngơ ngác như vừa nghe chính miệng mình nói bằng giọng người khác.
“Ta nói gì vậy?”
Lâm Tẫn đặt lồng đèn xuống đất trước khi hỏi tiếp. “Hứa thúc vừa nói chỗ này vướng đường ra cầu. Ông nhớ cây cầu nào?”
“Không có cầu.” Hứa thúc đáp ngay, rồi nhìn về đồng. “Ta sống ở đây hơn bốn mươi năm. Chỉ có mương, ruộng và bãi lau.”
“Nhưng vừa rồi ông nhớ xe chở lúa đi qua.”
Hứa thúc xoa trán. “Có một đoạn đường đá. Ta... hình như từng thay đèn ở đầu cầu.”
Bùi Khâm không chen vào bằng câu hỏi khác. Hắn kéo một cọc gỗ thấp tới, đặt xuống đất làm ghế cho Hứa thúc ngồi rồi mới nói: “Ông cứ kể phần nào tự hiện lên. Không cần cố làm nó hợp lý.”
Hứa thúc ngồi im một lúc. “Đầu phía đông có một trụ đá bị gãy. Trên trụ trước kia treo đèn. Không phải loại đèn cảnh giới này, là đèn dầu có chụp sắt. Qua cầu rồi mới tới một hàng cây cao.”
Lâm Tẫn thấy đầu ngón tay đang cầm bút chu sa của mình siết lại. Trụ đá gãy. Chi tiết thứ ba giống lời lão Trịnh và đứa bé.
Nhưng Hứa thúc không phải người bệnh trong danh sách của Tống Thanh Y. Ông cũng vừa ở ngoài đồng cả buổi, không ngồi dưới hiên y quán nghe lão Trịnh kể. Lúc đứa bé được khám, ông còn đang dẫn người đi thu bó kê phía bắc.
“Ông bắt đầu nhớ chuyện này từ lúc nào?” Lâm Tẫn hỏi.
“Ta không biết.” Hứa thúc nhìn bàn tay mình. “Trước khi ngươi hỏi, ta còn chẳng biết mình nhớ.”
Câu trả lời ấy khó chịu hơn một giấc mơ rõ ràng. Lâm Tẫn không hỏi thêm. Hắn chỉ nhờ Hứa thúc dùng đầu cành cây vẽ trên đất nơi ông nghĩ con đường từng đi qua. Hứa thúc vạch một đường từ ba cây liễu, cắt qua vị trí mấy cọc đỏ rồi dừng ở mương. Sau đó ông vẽ một hình chữ nhật thấp tượng trưng cho cầu và đánh một dấu ở đầu phía đông.
Nét vẽ không hoàn toàn trùng với đường Lâm Tẫn đã suy từ dấu chân thú, nhưng nó gần đến mức không thể coi là hai chuyện tách biệt.
Bùi Khâm ngồi xổm bên cạnh, dùng cán thương đo khoảng cách giữa hai đường trên đất. “Nếu lấy phần giữa, thú đang tránh đúng nơi Hứa thúc vừa vẽ đường đá.”
“Ghi là gần trùng.” Lâm Tẫn nói. “Đừng ghi là trùng hoàn toàn.”
Bùi Khâm nhìn hắn, rồi gật đầu. “Được. Gần trùng.”
Họ để Hứa thúc quay về y quán cho Tống Thanh Y hỏi thêm. Lâm Tẫn ở lại sửa đèn thứ ba. Mảnh phù ở đây không hỏng, nhưng viên đá tụ linh yếu tới mức chỉ đủ làm bấc ấm lên. Hắn không còn đinh trận nguyên vẹn để mượn làm chân dẫn, nên tháo sợi đồng thừa ở mái lồng, quấn lại thành một vòng nhỏ và nối với đường phù cũ.
Cách sửa không đẹp. Nếu ở Tê Hà, người phụ trách kho có thể bắt hắn làm lại vì nhìn quá tạm bợ. Nhưng khi Lâm Tẫn thử, bấc cháy lên một màu đỏ nhạt.
“Đêm nay đủ dùng.” hắn nói.
Bùi Khâm cắm thêm một cọc vải đỏ cách đèn năm bước. “Ta sẽ đứng ở tuyến này nửa đầu đêm. Nếu có thú xuống thì ít nhất không phải đợi chó sủa mới biết.”
“Đừng đứng một mình sát dải kia.”
“Ta biết.” Bùi Khâm siết nút vải rồi nhìn hắn. “Lần này ta nói thật. Không phải để ngươi nhắc đường lui.”
Lâm Tẫn không đáp bằng một câu đùa. Hắn nhìn khoảng đất Hứa thúc vừa vẽ, sau đó quay lại với lồng đèn.
Trong đầu hắn, tám lớp ký ức không đồng loạt tràn lên như ngày Khai Mệnh. Chúng chỉ nằm đó, mỗi lớp mang theo những địa hình, thành trì và con đường từng có ý nghĩa với một đời khác của hắn. Lâm Tẫn không cố đào sâu. Hắn chỉ rà qua những gì mình đã phân loại được.
Có một cây cầu đá trong một lớp ký ức, nhưng nằm giữa hai vách núi, dưới cầu là nước xiết. Có một con đường chạy qua ruộng thấp ở một đời khác, nhưng hàng cây ở đó là tùng đen, phía đông không có trụ gãy. Có nơi cũng từng gọi là Tê Hà, có Đông Điền, có những mốc năm đáng ngờ giống hiện tại, nhưng hình ảnh Bình Dã với ba cây liễu, cầu thấp và trụ đá gãy không khớp hoàn toàn với bất kỳ lớp nào hắn đang nhớ.
Điều đó không chứng minh con đường kia chưa từng tồn tại ở một đời nào khác. Nó chỉ chứng minh một chuyện nhỏ hơn, và vì nhỏ hơn nên đáng tin hơn: thứ đang xảy ra ở Bình Dã không thể được giải thích đơn giản bằng việc ký ức của riêng Lâm Tẫn tràn ra ngoài.
Hắn đã sợ điều ngược lại từ lúc Khai Mệnh: sợ rằng mọi chỗ sai mình nhìn thấy chỉ là đầu óc bị tám lớp đời sống làm rối. Sợ rằng một ngày hắn sẽ nhìn một con đường không ai khác thấy rồi tự tin bước lên đó chỉ vì đã từng đi qua trong một ký ức nào đó.
Bây giờ có những người khác cùng nhớ một nơi hắn không nhớ. Cảm giác đầu tiên không phải nhẹ nhõm, mà là một luồng lạnh chạy dọc sau gáy.
“Lâm Tẫn.”
Giọng Bùi Khâm kéo hắn trở lại. Bùi Khâm đang đứng cạnh đèn, không nhìn vào cuốn sổ mà nhìn thẳng hắn. “Ngươi vừa đi đâu vậy?”
“Ta đang đối chiếu vài thứ trong đầu.”
Bùi Khâm im một nhịp. Hắn không hỏi “thứ gì”, chỉ chỉ về lồng đèn. “Vậy đối chiếu sau. Cái này đang cháy quá mạnh.”
Lâm Tẫn cúi xuống. Bấc đỏ đã ngả sang cam vì dòng linh lực hắn vô thức giữ lâu hơn cần thiết. Hắn lập tức rút tay, điều chỉnh vòng đồng xuống một nấc. Ánh đèn trở lại bình thường.
“Cảm ơn.”
“Ta muốn ba mươi công điểm nguyên vẹn.” Bùi Khâm nói, nhưng giọng không có ý trêu nhiều. “Trong đó có phần của người sửa đèn.”
Hai người kiểm nốt đèn thứ tư ở mép bãi lau. Đèn này còn tốt, chỉ cần thay bấc. Khi họ trở về, Tống Thanh Y đã chuyển ba người mất ngủ tới gian nhà cạnh y quán để theo dõi đêm, những người còn lại được dặn người nhà không để tự ra đồng một mình.
Nàng nghe chuyện Hứa thúc xong thì ghi thêm một dòng vào sổ.
“Ông ấy không sốt, mạch ổn, tối qua ngủ đủ. Nếu lời nhớ sai và mất ngủ có cùng nguyên nhân, thì ít nhất mất ngủ không phải điều kiện bắt buộc.”
Bùi Khâm ngồi xuống bậc cửa. “Có nghĩa là người bình thường cũng có thể tự nhiên nhớ một cây cầu chưa từng có?”
“Ta chỉ nói Hứa thúc không nằm trong nhóm có triệu chứng rõ.” Tống Thanh Y đóng nắp lọ thuốc. “Đừng giúp ta kết luận.”
“Ta đang học từ Lâm Tẫn.”
Lâm Tẫn đưa cho nàng tấm ván nhỏ ghi vị trí bốn đèn. “Ba đèn dùng được, một đèn chỉ đủ qua tối nay. Ta đã chuyển hai điểm cảnh giới lệch khỏi dải dấu thú để tránh báo động mù. Bùi Khâm giữ nửa đầu đêm ở phía tây, ta giữ nửa sau.”
Tống Thanh Y nhìn hắn. “Cổ chân?”
“Không đau. Chỉ mỏi như đi đường cả ngày.”
Nàng gật đầu, chấp nhận câu trả lời mà không bắt hắn diễn lại động tác kiểm tra. “Vậy được. Nhưng nếu đêm nay có chuyện, đừng tự chạy theo thứ chỉ mình ngươi thấy.”
Lâm Tẫn khựng rất nhẹ.
Tống Thanh Y nhìn phản ứng đó rồi nói tiếp: “Ta không biết sau Khai Mệnh ngươi đang giấu bao nhiêu chuyện. Ta cũng chưa cần biết tối nay. Nhưng ở đây có người mất ngủ, thú đổi đường và ít nhất ba người kể cùng một nơi không tồn tại. Nếu ngươi nhận ra thứ gì liên quan trực tiếp tới nguy hiểm của họ, nói trước khi tự xử lý.”
Nàng không hỏi hắn vì sao biết nhiều hơn, chỉ đặt một ranh giới thuộc về nhiệm vụ hiện tại.
Lâm Tẫn đáp: “Ta sẽ nói nếu nó ảnh hưởng tới an toàn của người trong thôn.”
“Thế là đủ cho tối nay.”
Trước khi trời tối hẳn, ba người quay ra đồng tây kiểm tuyến một lần cuối. Hứa thúc không đi cùng nữa. Bốn đèn cảnh giới bắt đầu hiện ánh đỏ mờ khi bóng cây kéo dài. Những dải vải buộc trên cọc lay trong gió, tạo thành giới hạn rõ để người trong thôn biết không nên bước qua.
Bùi Khâm đi phía trước, dùng đầu thương gạt cỏ kiểm tra dấu mới. Tống Thanh Y mang theo túi thuốc và một đèn tay. Lâm Tẫn đi cuối, vừa nhìn đèn cảnh giới vừa ghi khoảng cách giữa các điểm.
Không có yêu thú xuất hiện. Điều bất thường đầu tiên lại đến từ ánh sáng.
Khi mặt trời chỉ còn một vành đỏ sau rặng dâu, đèn thứ ba bỗng tối đi trong một nhịp. Không tắt hẳn. Chỉ như có thứ gì đó đi ngang giữa ánh đèn và mặt đất.
Bùi Khâm lập tức quay lại. “Có gì?”
“Đứng yên.”
Lâm Tẫn không tiến lên. Hắn nhìn mặt đất giữa cọc vải đỏ thứ hai và bờ mương.
Ban đầu chỉ là một thay đổi rất nhỏ về màu. Đất nâu xám dưới lớp cỏ thấp xuất hiện một đường thẳng hơn mọi vệt bánh xe quanh đó. Sau đó, ở ngay cạnh đường thẳng ấy, một góc vuông mờ hiện ra, rồi thêm một góc nữa cách nó chừng hai gang tay.
Giống mép của những phiến đá lát bị chôn dưới đất. Lâm Tẫn nghe rõ tiếng thở của mình. Hắn không nhớ nơi này, và không một lớp ký ức nào trong tám lớp hắn đã phân loại đưa cho hắn cảnh tượng trước mắt.
“Lâm Tẫn?” Bùi Khâm gọi lần nữa. “Ngươi đang nhìn gì?”
Lâm Tẫn chưa trả lời ngay.
Trong ba nhịp thở, đường viền đá kéo dài thêm về phía ba cây liễu. Nó không phát sáng, không có linh quang, cũng không giống ảo ảnh do sương. Nó chỉ nằm đó, bình thường đến đáng sợ, như thể mặt đất vốn luôn có một con đường và hiện tại mới là thứ phủ sai lên trên.
Đến nhịp thứ tư, một cơn gió lướt qua ruộng.
Đường viền biến mất, chỉ còn đất, cỏ và những cọc vải đỏ.
Bùi Khâm đã bước tới cạnh hắn nhưng vẫn không nhìn thấy gì khác. Tống Thanh Y đứng phía sau, tay giữ đèn.
Lâm Tẫn nhìn đúng chỗ đường đá vừa hiện ra thêm một lần nữa rồi nói: “Vừa rồi ta thấy một hàng mép đá trên mặt đất.” Hắn dừng lại, tự sửa câu trước khi ký ức hoặc nỗi sợ biến nó thành một kết luận lớn hơn. “Chỉ trong vài nhịp thở.”