Chương 13 — Thanh Mạch Không Theo Bản Đồ
CANON v1
Mũi kim vẫn chỉ về phía tây.
Phan Nhạc không hỏi thêm lần thứ năm xem trụ có hỏng hay không. Hắn ngồi xổm bên tấm vải trải dưới đất, đối chiếu bốn hàng số ghi rồi lấy một thẻ gỗ mỏng chèn vào giữa hai trang sổ. Trên đường chính cách đó hơn ba mươi trượng, tiếng bánh xe vẫn đều đặn đi qua, hoàn toàn không biết dưới chân mình vừa có một thứ không chịu nằm yên trên bản đồ.
“Ta phải báo về Hội.” Phan Nhạc đóng sổ. “Nhưng trước khi báo, ta cần một câu người không học trận cũng hiểu được.”
Lạc Hành Chu đang niêm lại chiếc kim dự phòng, nghe vậy thì ngẩng lên. “Câu gì?”
“Các ngươi đo thứ này đến cuối cùng để quyết định việc gì?” Phan Nhạc chỉ vào trận trụ. “Không phải ‘để biết mạch hướng’. Biết rồi làm gì? Dựng trụ xong, xe sẽ tự đi nhanh hơn, hay người ta có thể từ đây truyền tống sang đầu kia?”
Tạ Hoài Uyên đang đứng phía ngoài phạm vi đo cũng nhìn sang. Câu hỏi không khó. Chỉ là hai ngày qua mọi người nói quá nhiều về số ghi, quyền kiểm lại và độ sâu, đến mức mục đích nằm sau tất cả những thứ ấy bị đẩy xuống dưới cùng.
Lạc Hành Chu đặt hộp kim xuống. “Không phải như vậy. Trận trụ không đưa người hay xe đi đâu cả. Thanh Mạch là dòng linh lực lớn dưới đất. Nếu nó ổn định, Tây Uyên mới có thể mở lại hành lang mặt đất xuyên qua vùng này; xe hàng vẫn đi bằng bánh và thú kéo, chỉ là không phải vòng theo tuyến cũ mất gần ba tuần. Trận trụ dùng để neo và điều tiết mạch thế, giữ dòng lực không lệch hoặc dội ngược khi đường chịu tải.”
Phan Nhạc hỏi: “Còn trận truyền tống?”
“Là một việc khác.” Lạc Hành Chu đáp. “Trận truyền tống chỉ có ở những trạm cố định đã nối sẵn với nhau. Đại trận ở đó có thể mượn Thanh Mạch làm nguồn lực và điểm neo để đưa người hoặc hàng từ trạm này sang trạm kia, nhưng chính trận trụ ngoài đây không làm được chuyện đó. Nếu Thanh Mạch dưới chân không ổn, trạm truyền tống dựa vào nó cũng không thể vận hành an toàn.”
Phan Nhạc nhìn trận trụ thêm một lần. “Vậy thứ các ngươi đang tìm là chỗ có thể giữ cả mạch lẫn con đường ổn định.”
“Và phải biết nó ổn định tới đâu.” Lạc Hành Chu chỉ vào bản đồ. “Ba việc vẫn như cũ: Thanh Mạch hiện tại thật sự đi về đâu; khi đoàn hàng nặng đi qua, mạch thế có đổi đến mức nguy hiểm hay không; và nếu muốn mở hành lang, trận trụ phải đặt ở đâu để giữ tuyến ổn định mà không đẩy phản lực ngược vào đường.”
Phan Nhạc hỏi: “Thiếu một trong ba?”
“Không nên mở cho đoàn lớn.”
Tạ Hoài Uyên nói thêm: “Ít nhất không mở chỉ vì bản đồ cũ bảo rằng có thể.”
Phan Nhạc nhìn hai người, sau đó nhìn con đường đang có một xe chở linh cốc đi qua. “Vậy hôm nay các ngươi không chỉ tìm xem dưới đất có mạch hay không. Các ngươi đang xem con đường thật có thể mở lại hay không, còn truyền tống là chuyện của những trạm phía sau.”
“Đúng.”
“Câu này dùng được.” Phan Nhạc mở sổ, viết thêm một hàng ngắn. “Ta báo như vậy.”
Tín phù lần này bay về phía bắc trước. Phan Nhạc vừa ép ấn xong thì một mảnh giấy khác từ tuyến hội đáp tới, không phải của Tề Mặc mà là dấu Tây Uyên. Hàn Tố Nghi không viết dài: giữ nguyên phạm vi hiện tại; chưa cho phép đo sâu; nếu muốn thử ảnh hưởng của đoàn hàng, dùng chính xe đang chạy trên tuyến, không tự gom xe tạo tải; mọi lần đo phải ghi rõ lúc ấy có bao nhiêu xe đi qua và xe thuộc loại nào. Dưới cùng có thêm một dòng khác, nét bút của người thư lại: Huyền Lô hỏi liệu số ghi hiện tại đã đủ để xác định hướng đưa khí cụ khai khoáng vào hay chưa.
Phan Nhạc đọc xong, đưa cho Lạc Hành Chu. “Bốn bên, bốn thứ muốn biết.”
Lạc Hành Chu nhìn dòng cuối. “Huyền Lô chưa đủ.”
“Vì sao?”
“Chúng ta còn chưa biết mũi kim đang chỉ vào đường mạch thật hay chỉ phản ứng với một thứ nằm sâu hơn. Nếu dùng nó để chọn đường đưa khí cụ vào, có thể chọn đúng hướng nhìn thấy mà sai thứ cần tìm.”
Tạ Hoài Uyên nhận tờ giấy sau Lạc Hành Chu. “Quy Tàng cũng chưa đủ.”
Phan Nhạc hỏi: “Các ngươi cần gì?”
“Biết đoàn nặng đi qua có làm dấu này đổi hay không.” Tạ Hoài Uyên nhìn ra đường. “Nếu mỗi lần hai mươi xe hàng qua là mạch thế lệch thêm một đoạn, chuyện đáng quan tâm không còn là đi nhanh hơn hai tuần. Là đoàn thứ hai mươi có còn đi qua được hay không.”
Phan Nhạc gật đầu. “Tây Uyên thì đơn giản hơn. Nếu muốn biết câu đó bằng cách khóa đường nửa ngày, ta sẽ hỏi có đáng không.”
“Vô Tướng muốn biết nguyên nhân.” Lạc Hành Chu nói.
“Cho nên?”
“Cho nên chưa bên nào có đủ thứ mình muốn.”
Một giọng từ phía sau vang lên. “Ít nhất có người biết mình chưa đủ.” Tề Mặc đi từ lối nhỏ phía bắc xuống, sau lưng chỉ có một đệ tử Vô Tướng mang hộp trắc cụ. Gấu áo hắn dính một lớp bụi đá nhạt, rõ ràng vừa rời điểm khảo sát phía bắc chứ không quay về khu hội tuyến rồi mới tới. Hắn nhận sổ từ Phan Nhạc, xem bốn hàng số trước khi nhìn trận trụ đang niêm.
“Điểm bắc?” Lạc Hành Chu hỏi.
“Chưa thấy lệch kiểu này.” Tề Mặc đáp. “Cho nên ta tới xem nơi có.”
Hắn đọc lại dòng Hàn Tố Nghi vừa cho phép rồi nói: “Không đo sâu. Không tăng lực. Dùng xe thật trên tuyến làm điều kiện thay đổi. Trước, trong, sau khi xe nặng qua đều phải đo cùng một cách.”
Phan Nhạc hỏi: “Nếu mũi kim đổi theo xe?”
“Thì hôm nay chúng ta biết thêm một việc.”
“Còn nếu không đổi?”
“Cũng biết thêm một việc.”
Phan Nhạc nhìn Tề Mặc một lúc. “Người Vô Tướng đều thích trả lời như vậy?”
Tề Mặc mở hộp trắc cụ. “Không. Người thích trả lời chắc khi chưa biết thường sống rất khỏe. Chỉ là người khác phải sửa phần họ làm hỏng.”
Tạ Hoài Uyên ở bên cạnh nói: “Ta bắt đầu hiểu vì sao Lạc đạo hữu nói hắn trả lời giống Tề đạo hữu.”
Lạc Hành Chu không nhìn hắn. “Ta đã bảo phải nói ngược lại.”
Tề Mặc dừng tay. “Hai người đã cãi tới chuyện ai giống ai rồi?”
Phan Nhạc đáp thay: “Chưa. Nếu cãi giữa đường, ta tính giờ.”
Tề Mặc nhìn Phan Nhạc, rồi nhìn hai người còn lại. “Quy củ tốt.”
Đo khi đường trống không khó. Khó là giữ mọi thứ khác giống nhau đến mức dấu thay đổi, nếu có, chỉ còn ít chỗ để đổ lỗi.
Lạc Hành Chu giữ nguyên ba điểm nông đã dùng từ trước, nhưng thêm hai dấu dẫn trên mặt đất để nhìn mạch thế chuyển giữa chúng. Không đào thêm, không đặt thêm trụ. Hắn chỉ cần một đường truyền linh lực rất mỏng chạy từ điểm chính sang hai điểm phụ, giống như dùng một nét mực nối ba dấu đã có để xem phản hồi chuyển hướng ở chỗ nào.
Trận châm có thể làm việc đó, nhưng khoảng giữa điểm chính và điểm phụ thứ hai vướng một gờ đá nhô lên. Nếu cắm thêm châm để vòng qua, số điểm thay đổi sẽ khác lần đo trước. Lạc Hành Chu không muốn thêm một thứ mới vào lúc đang cố giữ điều kiện cũ. Hắn rút thanh kiếm thẳng bên hông.
Tề Mặc nhìn một cái. “Dùng kiếm dẫn?”
“Ừ.”
“Đừng để mũi kiếm chạm đất ở điểm thứ hai.”
“Ta biết.”
Lạc Hành Chu đặt sống kiếm lên cạnh gờ đá, chỉ để một đoạn linh lực mỏng chạy dọc thân kiếm rồi chuyển xuống trận châm bên kia. Đường đầu tiên ổn. Tới góc vòng thứ hai, gờ đá buộc thân kiếm phải đổi hướng trong một khoảng rất ngắn. Thanh kiếm hiện tại quá thẳng, lực truyền qua nó cũng thích đi thẳng; nếu cố ép cổ tay, luồng dẫn sẽ bẻ góc đột ngột và tạo thêm một nhịp nhiễu không có trong lần trước.
Lạc Hành Chu đổi chân trái lên trước, hạ vai rồi chuyển kiếm sang tay trái trong nửa nhịp. Tay phải không buông hẳn chuôi mà dùng hai ngón giữ phần cuối, khiến cả thân người tạo thành một vòng dẫn lớn hơn thay cho đoạn kiếm không chịu đổi góc. Linh quang men qua gờ đá, mỏng nhưng liền.
Tề Mặc nhìn đường sáng rồi hỏi: “Giữ được bao lâu?”
“Năm lần đo không vấn đề.”
“Lần thứ sáu?”
“Không cần có lần thứ sáu nếu năm lần đầu đã cho cùng một chuyện.”
“Còn nếu không cùng?”
“Ta đổi cách.”
Tề Mặc gật đầu. “Được.”
Tạ Hoài Uyên đứng ngoài vòng đo, không nói gì. Nhưng Lạc Hành Chu biết người kia đang nhìn. Không phải nhìn linh quang; ánh mắt dừng ở cách hắn chuyển kiếm lâu hơn một nhịp rồi mới quay sang đường chính.
Lạc Hành Chu không hỏi. Thanh kiếm này dùng được, nhưng nó buộc hắn phải dùng một bước chân, một lần đổi tay và cả vai để làm việc mà một binh khí hợp với lối dẫn lực của hắn đáng lẽ chỉ cần một chuyển động cổ tay. Đời trước, hắn đã giải quyết chuyện ấy từ rất lâu, lâu đến mức phần ký ức về giai đoạn phải chịu đựng một thanh kiếm không đúng tay chỉ còn như một cái gai nhỏ nằm dưới lớp da cũ. Hiện tại cái gai vẫn ở đây.
Hắn giữ đường dẫn ổn định, nói với Phan Nhạc: “Ghi lần nền đầu.”
Phan Nhạc đặt bút. Không có xe đi qua. Ba mũi báo trên các điểm đều lệch về tây, nhưng không hoàn toàn cùng góc. Điểm gần đường nhất lệch nhiều hơn hai điểm phía trong một chút.
Tề Mặc không nhận xét. “Lần hai.”
Một xe nhẹ chở củi đi qua ở xa. Đất rung rất ít. Ba mũi báo gần như giữ nguyên.
“Lần ba chờ đoàn nặng.”
Phan Nhạc nhìn lịch tuyến trong sổ. “Khoảng một khắc nữa có sáu xe dược liệu từ nam lên. Sau đó gần giờ Ngọ có đoàn mười tám xe khoáng rỗng quay về phía mỏ cũ.”
Tạ Hoài Uyên hỏi: “Khoáng rỗng?”
“Xe rỗng nhưng bản thân xe nặng hơn xe dược. Trục và khung đều gia cường.”
“Dùng được.”
Phan Nhạc nhìn hắn. “Ngươi nói như thể xe của Tây Uyên là dụng cụ cho Vô Tướng.”
Tạ Hoài Uyên đáp rất tự nhiên: “Ta đang khen xe chắc.”
“Ta sẽ ghi đúng câu đó nếu trục gãy.”
“Vậy đừng ghi tên ta.”
Lạc Hành Chu nghe tới đó thì chuyển tay lần nữa, giữ đường dẫn không rung. Hắn không cần nhìn cũng biết Tạ Hoài Uyên đang cười hay không; chuyện ấy không liên quan tới phép đo. Ít nhất hắn nghĩ vậy.
Sáu xe dược liệu tới trước.
Phan Nhạc đã đứng ở mép đường từ sớm, không cho đoàn đổi tốc độ vì nhóm khảo sát. Xe cứ đi như bình thường. Tạ Hoài Uyên giữ vị trí ở đầu lối rẽ, vừa đủ để nếu một chiếc chệch khỏi đường có thể báo người trong nhóm tránh, nhưng không dùng linh lực và không bước vào vòng đo.
Lạc Hành Chu truyền cùng một mức lực xuống trụ. Chiếc xe đầu tiên qua khỏi mốc đối diện, mũi báo gần đường rung sang trái một chút. Chiếc thứ hai tới, nó chậm rãi lệch thêm về tây. Tới chiếc thứ tư, hai điểm phía trong cũng bắt đầu đổi, nhưng chậm hơn. Chuyển động không nhiều, nhưng đủ để nhìn thấy.
Khi chiếc thứ sáu qua hết, ba mũi báo không quay về ngay. Điểm gần đường trở lại trước, hai điểm trong giữ hướng mới thêm vài hơi thở rồi mới nhích dần về vị trí ban đầu.
Phan Nhạc ghi xong mới hỏi: “Đó có phải ‘nguy hiểm’ không?”
“Chưa.” Lạc Hành Chu đáp.
Tạ Hoài Uyên hỏi: “Nhưng nếu xe nặng hơn?”
“Chưa biết.”
Tề Mặc ngồi bên điểm chính, dùng đầu bút đánh một dấu nhỏ lên bản sao địa tầng. “Ít nhất có thể bỏ một cách giải thích.”
Phan Nhạc hỏi: “Cách nào?”
“Nếu chỉ là kim kẹt theo hướng tây, xe đi qua không thể khiến ba điểm đổi khác nhau rồi hồi lại khác nhau.”
“Vậy bản đồ sai?”
“Chưa đến đó.” Tề Mặc nhìn Lạc Hành Chu. “Ngươi thấy gì?”
Lạc Hành Chu nhìn ba điểm. “Gần đường phản ứng trước. Phía trong phản ứng sau. Không giống một vật cố định chỉ kéo tất cả về cùng một hướng.”
“Tiếp.”
“Nếu đoàn nặng làm dấu đổi rõ hơn, hoặc lớp mạch nông đang bị tải trên mặt ép lệch, hoặc tải chỉ làm lộ ra một đường dẫn khác vốn nằm dưới nó.”
Tạ Hoài Uyên nói: “Hai chuyện ấy khác nhau thế nào với người muốn mở đường?”
Đây mới là câu cần trả lời. Lạc Hành Chu chỉ vào bản đồ. “Nếu bản thân mạch bị ép đổi khi đoàn hàng đi qua, vị trí đặt trụ phải tránh nơi chuyển thế mạnh nhất, hoặc trụ sẽ liên tục sửa một thứ đang chuyển dưới chân nó. Nếu tải chỉ làm lộ một tầng mạch khác, thì bản đồ hiện tại thiếu một lớp; chúng ta có thể đang định đặt trụ lên đúng chỗ của tầng trên nhưng sai đối với tầng dưới.”
Tạ Hoài Uyên hiểu ngay. “Một cái là đường làm mạch đổi. Một cái là đường khiến chúng ta nhìn thấy mạch vốn đã có.”
“Đúng.”
Phan Nhạc chỉ vào sổ. “Còn Tây Uyên cần biết cả hai trước khi cho xe nặng vào hành lang mới.”
“Đúng.”
“Vậy bây giờ ta hiểu vì sao các ngươi chưa chịu nói ‘mở được’.”
Lạc Hành Chu không đáp. Đây là điều đáng lẽ phải rõ từ đầu, nhưng hắn biết người làm chuyên môn rất dễ quên rằng một phép đo chỉ có giá trị vì một người nào đó sẽ dùng nó để quyết định việc thật. Tề Mặc không quên chuyện ấy. Có lẽ vì thế năm xưa những công văn của người này luôn dài hơn người khác một đoạn, và Lạc Hành Chu trẻ tuổi từng thấy rất phiền. Ký ức đó lướt qua rồi dừng lại. Hắn chưa cần nhớ sâu hơn.
Đoàn xe khoáng rỗng còn chưa tới. Lạc Hành Chu tranh thủ tháo đường dẫn khỏi kiếm, cho cổ tay nghỉ một lúc. Cơ thể mười bảy tuổi chưa mỏi nhiều, nhưng cách bù góc vừa rồi không thích hợp để lặp quá lâu. Hắn đặt kiếm ngang trên vải, nhìn thân kiếm thẳng như một đường kẻ không chịu uốn.
Trong thức hải, Vô Tự Diễn Lục vẫn yên. Lần này Lạc Hành Chu mở nó rất ít, không phải để hỏi đáp án.
Hắn chỉ đặt vào những dấu đã có: hướng tây lặp lại; điểm gần đường đổi trước; xe nhẹ gần như không ảnh hưởng; sáu xe dược làm ba điểm lệch rồi hồi với thời gian khác nhau; bản đồ hiện tại không ghi đường mạch nông ở sườn tây.
Vô Tự không hiện ra một chân tướng. Nó tách các dấu thành vài đường có thể đi tiếp: hai tầng mạch chồng lên nhau; một vật dẫn lực cũ nằm sâu hơn lớp đang đo; bản đồ bỏ sót hoặc đã lỗi thời; một cấu trúc sâu đang kéo phản hồi của lớp nông. Mỗi đường đều giải được một phần, không đường nào giải được hết.
Lạc Hành Chu khép Vô Tự lại. Tề Mặc đang ở trước mặt. Tạ Hoài Uyên ở cách đó vài trượng. Phan Nhạc giữ bản ghi. Không có lý do dùng một công cụ chỉ sắp lại điều hắn đã biết để thay cho phép đo mà cả bốn bên đều có thể kiểm lại.
Đoàn xe khoáng rỗng xuất hiện gần giờ Ngọ.
Mười tám xe đi thành ba nhóm, mỗi nhóm sáu chiếc, khoảng cách giữa các nhóm đủ dài để thú kéo đổi nhịp. Dù không chở quặng, khung xe dày và bánh lớn khiến tiếng lăn xuống nền nặng hơn đoàn dược liệu rõ rệt.
Phan Nhạc đứng ở đường, giơ một tay báo nhóm khảo sát chuẩn bị nhưng không cản xe. Tề Mặc ở điểm chính. Lạc Hành Chu giữ đường dẫn qua thanh kiếm. Tạ Hoài Uyên vẫn đứng ngoài vòng, ánh mắt đi giữa bánh xe đầu đoàn và sườn đá phía tây.
Nhóm sáu xe đầu đi qua. Mũi báo gần đường nghiêng sang tây nhanh hơn trước. Điểm thứ hai đổi sau hai nhịp. Điểm thứ ba chậm nhất nhưng lần này không dừng ở góc cũ; nó vượt thêm một đoạn nhỏ rồi mới ổn định.
Tề Mặc nói: “Giữ nguyên.”
Lạc Hành Chu không đổi lực. Khoảng trống giữa hai nhóm xe tới. Mũi báo gần đường bắt đầu hồi, nhưng chưa về hết thì nhóm thứ hai đã vào đoạn đối diện. Nó lập tức chuyển ngược trở lại. Hai điểm phía trong, vốn còn chưa hồi xong, tiếp tục lệch thêm.
Tạ Hoài Uyên nhìn từ mũi báo sang mặt đường. “Nếu đoàn dài hơn nữa thì sao?”
“Đó chính là thứ chưa được phép thử bằng cách tự gom xe.” Tề Mặc đáp.
“Ta biết. Ta hỏi hướng suy ra.”
Tề Mặc không trả lời thay Lạc Hành Chu.
Lạc Hành Chu nói: “Nếu hiện tượng cộng dồn theo thời gian chịu tải, đoàn dài có thể làm mạch thế chưa kịp trả về đã bị ép sang nhịp tiếp theo. Nhưng hiện tại chỉ là giả thiết.”
Tạ Hoài Uyên gật đầu. “Đủ để không cho đoàn dài vào một tuyến chưa nghiệm.”
Phan Nhạc từ ngoài đường nói vọng vào: “Câu đó ta sẽ ghi.”
Nhóm xe thứ ba bắt đầu qua. Đúng lúc ấy, một công nhân Tây Uyên từ phía sườn đá đi xuống. Người nọ mang giỏ nêm gỗ và một bó dây, có lẽ được gọi tới để đánh dấu chỗ nền lún mà đoàn khảo sát thấy trên đường sáng nay. Hắn không đi vào vòng trụ, chỉ chọn lối men qua chân sườn đá để tránh xe.
Lạc Hành Chu nhìn thấy người nọ. Hắn cũng nhìn thấy mũi báo thứ ba đang tiếp tục lệch. Nhưng trước khi hai việc ấy kịp nối thành một lời giải, Tạ Hoài Uyên đã lên tiếng.
“Đừng bước tới.”
Công nhân khựng lại. Tạ Hoài Uyên không nhìn trận trụ. Hắn nhìn chân người kia, rồi nhìn một vệt bụi rất mảnh đang rơi khỏi khe đá cao hơn đầu hai trượng. Gió từ đường thổi vào sườn, nhưng bụi lại rơi thẳng, từng nhịp ngắn như bị thứ gì dưới đất đẩy lên rồi thả xuống.
“Lùi ba bước.” Tạ Hoài Uyên nói.
Người công nhân còn chưa hiểu nhưng Phan Nhạc đã quát: “Lùi!”
Hắn lập tức làm theo. Một tiếng rắc nhỏ vang lên từ chân sườn. Không có đá lớn lăn xuống. Chỉ một phiến đá mỏng bằng nửa cánh cửa trượt khỏi lớp đất phía dưới, hạ xuống đúng chỗ người công nhân vừa định đặt chân. Nó nghiêng đi, để lộ một khe tối hẹp phía sau rồi mắc lại vào hai tảng đá khác.
Phan Nhạc chạy tới trước, nhưng dừng ở ngoài mép nền mới trượt. “Không ai vào.”
Tạ Hoài Uyên cũng không bước tới. Hắn chỉ cúi nhặt một viên sỏi ngoài lề, ném vào phần đất trước khe. Viên sỏi chạm đất rồi lăn lệch sang trái, không chìm xuống.
Lạc Hành Chu đã cắt dòng dẫn khỏi kiếm. Ba mũi báo vẫn còn rung vì đoàn xe cuối vừa qua.
Tề Mặc hỏi: “Ngươi thấy gì trước?” Câu hỏi hướng về Tạ Hoài Uyên.
Tạ Hoài Uyên đáp: “Bụi rơi sai nhịp. Đá kê dưới chân hắn cũng đang dịch về phía ngoài.”
“Ngươi nhìn được đá kê?” Phan Nhạc hỏi.
“Nhìn bóng.”
Phan Nhạc nhìn chỗ người công nhân vừa đứng, rồi nhìn Tạ Hoài Uyên. “Mắt tốt.”
Tạ Hoài Uyên cất tay khỏi chuôi kiếm. “Đường xấu dạy người nhìn nhiều.”
Lạc Hành Chu không nói gì. Một kiếm tu mười tám tuổi được giao hộ tuyến có thể có mắt tốt. Quy Tàng có thể đã bắt Tạ Hoài Uyên nhìn trọng tâm người, điểm đặt chân và đá lăn từ nhỏ. Một người từng xử lý tuyến nguy hiểm cũng có thể nhận ra dấu nền mất trước trận sư đang bận nhìn mũi báo.
Tất cả đều hợp lý. Nhưng Lạc Hành Chu vẫn ghi nó vào trí nhớ, không phải như bằng chứng mà như một dấu nữa.
Phan Nhạc không cho ai chạm vào khe đá mới lộ.
“Phần này ngoài phạm vi đào.” Hắn nói. “Khe tự lộ không có nghĩa các vị được quyền mở rộng nó.”
Tề Mặc đáp: “Không ai mở.”
Hắn cho đệ tử Vô Tướng đặt dây cảnh giới ngoài nền trượt, sau đó quay lại ba điểm đo. Đoàn xe đã qua hết. Theo lẽ trước đó, các mũi báo phải từ từ quay về gần vị trí nền ban đầu.
Điểm gần đường đang hồi. Điểm thứ hai cũng vậy. Điểm thứ ba không. Nó đứng yên ở góc lệch lớn nhất trong ba lần từ sáng tới giờ.
Lạc Hành Chu đổi kim một lần nữa. Kết quả không đổi.
Tề Mặc nhìn khe đá mới lộ, rồi nhìn bản đồ. “Chưa kết luận.”
“Ta biết.” Lạc Hành Chu đáp.
Phan Nhạc hỏi: “Có cần dừng hôm nay không?”
Tề Mặc chưa trả lời ngay. Hắn đang nhìn ba mũi báo, như muốn xác định chính xác thứ gì còn chưa quay về.
Mặt đất rung một nhịp rất nhỏ. Không đủ khiến người đứng mất thăng bằng. Chỉ đủ để lớp nước trong chén tre Phan Nhạc đặt cạnh sổ gợn thành một vòng tròn, và vài hạt cát trên tấm vải nhảy lên rồi rơi xuống.
Ba mũi báo cùng chuyển động. Không phải điểm gần đường trước rồi điểm phía trong sau như lúc đoàn xe đi qua. Cả ba quay cùng lúc. Chúng lướt qua những góc vừa đo, đồng loạt chĩa về phía sườn tây.
Trong khoảnh khắc ấy, Lạc Hành Chu không nhìn bản đồ. Hắn nhìn Tề Mặc. Tề Mặc đã đặt tay lên khóa niêm của hộp trắc cụ.
“Dừng đo.”
Phan Nhạc đóng sổ ngay.
Tề Mặc nói tiếp: “Niêm cả ba điểm. Không ai chạm khe đá. Gửi bản ghi về Hội và gọi người phụ trách địa tầng tới đây.”
Không ai phản đối. Bởi tới lúc này, câu hỏi đã không còn là liệu một mũi kim có chỉ sai hướng hay không. Thanh Mạch dưới chân họ đang đáp lại hai thứ khác nhau theo hai cách khác nhau: tải của đoàn xe làm các điểm lệch lần lượt, còn nhịp rung vừa rồi khiến cả ba cùng quay về một phía.
Muốn mở hành lang, trước hết họ phải biết mình đang định đặt trụ lên thứ gì.