Mùi cây ẩm mỗi lúc một rõ.
Tạ Hoài Uyên ngẩng đầu, thấy ở cuối con dốc một vệt sáng mỏng nằm ngang trên nền đá. Nó không có màu xanh tím của thứ ánh sáng từng hiện trên vòm hang, cũng chẳng kéo theo những điểm trắng chạy ngược trong bóng tối. Ánh sáng ấy nhợt nhạt, vướng bụi và hơi nước. Có một chiếc lá nhỏ mắc ở kẽ đá, mỗi lần gió lọt qua lại rung lên.
Hà Sâm đi trước chừng năm bước, nhìn chiếc lá rồi nhìn bờ vách phía trên. “Có cây thật. Nhưng chưa chắc có đường cho người.”
“Thì tìm đường cho người.” Ninh Chiếu Tuyết đáp.
Nàng vẫn giữ một đầu cọc gỗ đang khiêng thanh kim loại vàng xám cùng Lương Túc. Vật ấy không dài, song đi qua chỗ nền hẹp thì hai người phải bước đúng nhịp, tránh để đầu cọc vướng vách. Tạ Hoài Uyên thấy ngón tay Lương Túc đã trắng vì siết gỗ. Người Huyền Lô hiển nhiên không quen cứu một món vật liệu bằng cách khiêng nó như người bị thương.
“Đặt xuống một lát.” Tạ Hoài Uyên nói.
Lương Túc nhìn sang. “Ngươi thấy đường nào à?”
“Thấy ngươi sắp đánh rơi.”
“Ta còn cầm được.”
“Vậy càng nên đặt xuống lúc còn cầm được.”
Ninh Chiếu Tuyết không chờ hai người nói tiếp. Nàng hạ đầu cọc phía mình, tìm chỗ đá bằng rồi đặt thanh kim loại dọc theo vách. Không ai phản đối. Cả đoàn đã đi xa khỏi hố cạn, nhưng những tiếng rền sau lưng vẫn truyền lên từng đợt. Chỗ họ đứng chưa thể gọi là an toàn.
Tạ Hoài Uyên muốn cúi xuống xem vết rạn trên đầu thanh vàng xám. Một cơn nóng đột ngột chạy qua ngực khiến hắn phải vịn vách, bàn chân dịch sai nửa bước. Chưa kịp giữ lại tư thế, bàn tay Thẩm Thanh Giản đã đỡ ngang khuỷu trái.
“Dừng.”
“Ta không định đi tiếp ngay.”
“Ngươi định cúi xuống.”
“Chuyện đó cũng tính?”
“Với ngươi, hôm nay tính.”
Thẩm Thanh Giản giữ mạch hắn đủ lâu để ánh mắt trở nên khó chịu. Khi buông tay, nàng không đưa thuốc ngay, chỉ kéo người tránh khỏi đường gió mạnh rồi bảo hắn ngồi tựa vào một mảng đá nhô. Hơi thở Tạ Hoài Uyên vẫn đều, nhưng hai nhịp tim gần nhất không đi cùng nhịp linh lực. Cảm giác ấy có gì đó quen thuộc đến mức hắn lập tức ngừng mọi ý định nội quan thêm.
Tạ Hoài Uyên biết rất rõ trong cơ thể đang có thứ gì. Sự hiểu biết đó chưa giúp hắn bớt sốt, và hiện giờ càng không phải lý do để thử đánh thức nó lần nữa.
“Người ở dưới hố có ai thiếu không?” Thẩm Thanh Giản hỏi Ninh Chiếu Tuyết, dù chính nàng cũng vừa đếm họ.
“Bảy người, đủ.” Ninh trả lời.
“Được. Ngươi đưa người đi trước. Ta cho Tạ Hoài Uyên nghỉ đúng bằng thời gian các ngươi tìm đường.”
Lạc Hành Chu lúc này mới bước tới. Tay phải hắn quấn tạm một dải vải rách từ cổ tay áo, chỗ lòng bàn tay có vệt đỏ thấm qua. Tạ Hoài Uyên nhìn thấy, nhưng không định bảo người kia đưa tay cho mình xem. Thẩm Thanh Giản đã nhìn thấy từ trước.
“Ngươi cũng ngồi.”
Lạc Hành Chu nhìn vệt sáng phía trên. “Ta còn có thể đi.”
“Nếu ta hỏi chân ngươi có đi được không, câu đó hữu dụng.” Thẩm Thanh Giản chỉ xuống phiến đá khô bên cạnh. “Ta hỏi ngươi ngồi.”
Lạc Hành Chu ngồi.
Tề Mặc chống vách, bật ra một tiếng cười ngắn. “Lần này nàng có hai người không cãi được.”
Thẩm Thanh Giản không ngẩng đầu. “Ba.”
Tề Mặc ngậm miệng, chuyển phần lớn trọng lượng về chân phải. Chân trái của hắn còn cảm giác, song những vệt lạnh trắng dưới ống quần chưa tan hết. Đường leo vừa rồi buộc hắn dùng sức nhiều hơn mức y tu cho phép. Hắn biết mình nằm trong số ba người ấy.
Hà Sâm và Ninh Chiếu Tuyết đi lên trước. Lương Túc muốn theo, nhưng Ninh bảo hắn ở lại trông vật đã mang ra từ hố. Nàng nói thế như giao một ca trực hết sức bình thường, không giống giao cho hắn cả thứ quý nhất trong đoàn.
Tạ Hoài Uyên nhìn theo hai người khuất sau bờ đá. Hắn nghe được tiếng giày cọ trên sỏi, tiếng Hà Sâm thử gọi vào khe hẹp, rồi tiếng một viên đá rơi xuống phía bên kia.
Không có tiếng đáp.
Một lúc sau, Ninh Chiếu Tuyết gọi vọng xuống: “Có khoảng trống. Nhưng phải chui lần lượt. Đem người lên trước.”
Đó là điều đầu tiên trong buổi sáng này khiến Tạ Hoài Uyên thật sự nghĩ tới bầu trời bên ngoài.
Tạ Hoài Uyên không nhớ lần cuối cùng mình phải được người khác đỡ qua một khe đá hẹp là khi nào.
Đời trước, tới lúc có thể dùng một kiếm xé cả vách núi, hắn thường quên những lối đi chỉ rộng bằng vai người cũng đủ cứu mạng. Kiếp này hắn không xé được vách. Hắn phải nghiêng người theo chỉ dẫn của Hà Sâm, giữ tay phải sát ngực và để Thẩm Thanh Giản đỡ phần hông khi đầu gối hụt sức.
Đường thoát không phải một cửa hang lớn. Một khối đá tựa vào sườn đã che gần hết khe. Rễ của một cây già chui qua phần trên, để lại khoảng hở vừa đủ cho người cúi thấp. Gió lùa từ ngoài vào qua lớp rễ, đem theo mùi bùn và lá mục.
Ninh Chiếu Tuyết đã trèo qua trước. Nàng ở phía kia, dùng vỏ kiếm gạt đất rơi khỏi đường và đặt bàn tay lên vai từng người khi họ bước ra. Không có bước nào dành cho kiếm tu thi triển thân pháp. Tạ Hoài Uyên thậm chí còn phải nhận từ nàng một lời nhắc rất ngắn.
“Coi chừng đầu.”
Hắn cúi đầu đúng lúc một rễ cây quệt ngang tóc.
Phía sau, Lương Túc và Hà Sâm chuyển thanh vàng xám qua sau cùng. Vật dài hơn khoảng hở nằm ngang; họ phải xoay đầu cọc theo chiều dọc, để thanh trượt qua giữa hai vách đá mà không cạ vào cạnh sắc. Lương Túc vừa qua một nửa đã khựng lại khi mép vải buộc mắc vào khe.
“Buông đầu dưới.” Ninh nói.
“Nhưng—”
“Ta giữ đầu trên. Ngươi tháo vải.”
Lương Túc nhìn tay nàng, rồi làm theo. Tạ Hoài Uyên biết đó không phải lần đầu Ninh Chiếu Tuyết giành một lựa chọn khỏi tay người khác khi chậm thêm sẽ khiến mọi việc khó hơn. Hắn cũng không thấy nàng có nhu cầu được cảm ơn vì chuyện ấy.
Một tiếng nứt nhỏ truyền từ bên trong sườn. Ninh Chiếu Tuyết kéo đầu cọc khỏi mép, Lương Túc trượt hẳn ra ngoài, rồi cả hai hạ thanh kim loại xuống trên đất ẩm. Sau lưng họ, mấy hạt sỏi rơi qua chỗ rễ cây. Khe đá vẫn còn nhưng không ai nghĩ tới chuyện quay vào lấy thêm vật gì.
Tạ Hoài Uyên đứng giữa một sườn rừng thấp.
Bầu trời hiện ra qua những tán cây, xám nhạt vì mây sau mưa. Xa hơn là đường viền của hai dãy núi Tây Uyên, quen hơn bất kỳ hướng ánh sáng nào trong lòng khe. Không có biển mây vô tận, không có thiên tượng kỳ lạ. Chỉ có tiếng chim bị động bay lên từ một bụi trúc, và tiếng nước chảy đâu đó phía dưới dốc.
Hà Sâm ngẩng nhìn ngọn cây một lần, rồi chỉ sang bên phải. “Ta biết chỗ này. Mỏm Đá Có Rễ, phía đông miệng Hồi Âm Khe. Trạm ngoài ở sau sống núi kia.”
“Cách bao xa?” Lạc Hành Chu hỏi.
“Đi chân lành thì chưa đầy một khắc. Đi như chúng ta...” Hà Sâm nhìn Tề Mặc và Tạ Hoài Uyên, tự bỏ phần thời gian chưa nói hết. “Ta đi gọi người.”
Ninh Chiếu Tuyết lắc đầu. “Ta đi. Ngươi biết lối nước xuống dưới; ở lại chỉ đường nếu phải chuyển thương.”
Nàng không chờ một cuộc phân quyền. Đặt chiếc cọc mang vật xuống, Ninh Chiếu Tuyết nhìn đủ sáu người còn lại rồi rời sườn bằng những bước kiếm tu gọn và chắc, nhanh chóng mất hút sau cây.
Tạ Hoài Uyên thấy gió ngoài trời làm cơn nóng trong ngực dễ chịu hơn một chút. Chỉ một chút. Thẩm Thanh Giản không cho hắn nhân đó đứng thẳng lâu hơn.
Trong lúc chờ cứu viện, Tề Mặc bất ngờ gọi Lương Túc.
“Nhìn vách kia.”
Ở chỗ khe đá vừa đưa họ ra, một mảng rêu và đất đã tróc theo rễ cây. Dưới lớp đá nâu có một vệt đen phẳng kéo dài từ mặt cắt ra đến phía sườn. Tạ Hoài Uyên ban đầu tưởng đó là một đường khoáng lộ thiên. Nhưng ánh sáng ngoài trời khiến mặt vệt ấy rõ hơn ánh sáng trong hố.
Trên nền đen có ba lỗ sâu hình thoi, cách nhau gần bằng nhau. Hai lỗ còn bịt bằng nút màu xám, lỗ còn lại trống. Mép các lỗ không sứt ngẫu nhiên; chúng có bờ vát cùng hướng, như được khoét bằng một dụng cụ rồi mài cho vừa vật đặt vào.
Lương Túc cúi nhìn mà không sờ.
“Ở trong hố,” hắn nói, “thanh vàng xám có đầu chốt cùng hình.”
“Trên vách?” Tề Mặc hỏi.
“Không.” Lương Túc đưa cọc gỗ chỉ theo mép. “Trên lớp bên dưới cái mà mọi người vẫn gọi là đá. Nhìn phía phải.”
Tạ Hoài Uyên nghiêng người nhìn. Bên mép vệt đen có một đường ghép chạy vào lớp đá bên trên, rồi khuất dưới rễ cây. Một tấm mỏng hơn nằm chồng lên tấm dưới. Khoảng giữa được trám bằng vật liệu sẫm màu đã lão hóa, nhưng ở một đoạn ngắn có màu xám mới hơn. Vết trám mới đè lên một lỗ chốt cũ.
“Có người từng sửa.” Tạ Hoài Uyên nói.
Lương Túc không trả lời ngay. Hắn chỉ sang lớp chốt phía trên, nơi một dấu ba nét ngắn nằm sát rãnh: hai nét thẳng, nét thứ ba chệch sang trái. Hình ấy lặp lại ở mép tấm chồng dưới, chỉ đảo đầu theo vị trí đặt.
Tạ Hoài Uyên nhớ tới đường ba nét từng in lên mặt giấy tại Hồi Âm Khe, nhớ các điểm trụ cũ không nằm đúng hàng với tuyến mới. Hắn chưa có lý do nói chúng cùng thuộc một thứ. Nhưng dấu chốt ở đây, ngay trước mắt, không cần dựa vào bất kỳ ký ức nào để hiện rõ.
Tề Mặc ngồi thấp xuống, đưa hai ngón tay cách mặt vách một khoảng nhỏ. “Vết nứt của đá đi ngang qua tấm trên. Còn đường ghép giữa hai tấm không lệch theo vết nứt.”
Hắn chỉ hai nơi bằng mắt, không đưa linh lực vào.
Vết đá tự nứt lởm chởm, thay độ rộng khi đi qua chỗ mềm. Đường ghép nằm gần như bằng phẳng, chạy dưới vết nứt và không đổi chiều chỉ vì đá bên ngoài đã vỡ. Hơn nữa, lớp trám mới nằm đúng ở nơi tấm trên từng được tháo ra rồi đặt lại.
Không có đường nước nào có thể khoét những lỗ chốt giống nhau, lắp hai tấm chồng lên nhau và sau nhiều năm lại vá một mối nối cũ.
Tạ Hoài Uyên không nói kết luận ấy thành lời. Hắn còn cần nhìn xem vệt đen này có thuộc phần đá từng rơi xuống Tây Uyên hay chỉ là một vật được dựng về sau trong lòng khe.
Lương Túc đã quay sang mặt sườn phía ngoài.
“Chỗ kia cũng có.”
Một quãng bên dưới, nơi đá lở làm lộ mặt cắt lớn hơn, ba tầng vỏ hiện ra dưới lớp khoáng nâu. Chúng ôm theo cùng độ cong của sườn, không theo thế phân lớp địa chất tự nhiên. Lớp ngoài đã phong hóa đến mức gần giống đá núi. Nhưng ở điểm đá lở, từng tấm dài vẫn nằm vào các rãnh chờ có bờ dựng. Nơi một tấm bị hụt, mép tấm còn lại có dấu gờ khớp tương ứng.
Tạ Hoài Uyên nhớ khu hạch đen đã nằm sâu giữa hai dòng lực như thế nào. Ở đó có vật truyền lực, có thanh giữ, có thứ buộc hướng chuyển động phải đi qua những điểm nhất định. Ở đây, trên chính vỏ ngoài mà người ta gọi là Táng Tinh, lại có những mối ghép cùng cách làm: chỗ chịu lực được đặt dày hơn, chỗ nối có chốt, có một phần từng được tháo sửa.
Không ai biết chúng được làm ở thời đại nào.
Cũng không ai biết vì sao một thứ có các lớp vỏ lắp ghép như vậy lại nằm trong núi Tây Uyên và bị người đời gọi là đá rơi từ trời.
Nhưng từ nơi đứng này, lần đầu tiên Tạ Hoài Uyên thấy câu hỏi ấy có thể được hỏi bằng bằng chứng thật.
Tiếng bước chân và tiếng người gọi nhau vọng tới từ rừng. Ninh Chiếu Tuyết trở về cùng hai người Cô Phong ngoài tuyến, một người Tây Uyên mang cáng và ba người khác cầm dây. Phía sau họ, Hàn Tố Nghi đang đi rất nhanh nhưng không chạy. Vừa trông thấy bảy người bên vách, nàng đã dừng, nhìn từng mặt từ Ninh sang Hà Sâm, Lương Túc, Tề Mặc, Lạc Hành Chu, Thẩm Thanh Giản, cuối cùng là Tạ Hoài Uyên.
“Bảy?”
“Đủ bảy.” Ninh Chiếu Tuyết đáp. “Không có người để lại trong khe.”
Hàn Tố Nghi im lặng một nhịp. Rồi nàng quay sang người mang cáng. “Đưa ba người này xuống trước.”
Tề Mặc chỉ vào chân mình. “Ta tự đi—”
“Ngươi có thể tự đi, nhưng không cần đi.”
Người giữ cáng không để Tề Mặc giải thích thêm. Tạ Hoài Uyên định nhường hắn lên trước, Thẩm Thanh Giản đã đưa tay chắn lại.
“Hai cáng nữa đang lên.” Hàn Tố Nghi nói. “Hôm nay ta có người và có cáng. Đừng tranh nhau làm việc của chân.”
Lạc Hành Chu nhìn tấm vải quấn tay, không nói gì. Hàn Tố Nghi lập tức nhìn ra hắn cũng bị thương, nhưng không hỏi ngay. Nàng nhìn vách đá nơi Lương Túc vẫn đứng gần đó, thấy ba người vừa cúi nhìn thứ gì.
“Có dấu gì?”
“Có.” Tề Mặc đáp. “Dấu khiến chuyện chúng ta ra được đây không còn là toàn bộ việc phải báo.”
Hàn Tố Nghi bước tới. Tạ Hoài Uyên đứng dậy theo thói quen, nhưng bị Thẩm Thanh Giản ấn trở lại cáng.
“Ngươi còn mắt.” Nàng nói. “Ngồi nhìn vẫn được.”
Hàn Tố Nghi không yêu cầu Tề Mặc diễn giải ngay. Nàng đi dọc vệt đen, nhìn lớp ngoài phong hóa, chỗ gờ chờ bên dưới và vết trám chồng lên lỗ chốt. Khi nàng quay trở lại, trên ngón tay chỉ có bụi rêu từ bờ đá tự nhiên, không ai đụng đến mối ghép vừa lộ.
“Đây là trên lớp vỏ ngoài của khối Táng Tinh?” nàng hỏi Hà Sâm.
“Đúng vùng người Tây Uyên vẫn chỉ trên bản đồ.” Hà Sâm đáp. “Từ ta còn nhỏ, sườn này đã mang cái tên ấy. Mỏm cây mới mọc che chỗ lộ thôi.”
“Không phải chỉ có đường ghép ở trong hang?”
“Không.” Lương Túc trả lời. “Chính vỏ ngoài cũng có các tầng tấm ăn khớp. Cấu kiện ở hạch vừa dỡ ra có đầu chốt cùng kiểu. Thứ này có đường chịu lực từ sâu ra ngoài, từng được lắp và từng được sửa.”
Hàn Tố Nghi nhìn khoảng đá lở thêm lần nữa. Nàng đã quen phải bác những câu kết luận quá nhanh. Lần này người trước mặt không đưa một giả thiết chỉ vì ánh sáng hay tiếng vọng lạ. Họ có những mặt ghép, lỗ chốt, vết vá và một cấu kiện tháo khỏi chỗ chịu lực.
“Có thể khẳng định cái gì?” nàng hỏi.
Tề Mặc đáp: “Khối vật thể mà Tây Uyên gọi là Táng Tinh có các lớp vỏ và cấu kiện được lắp ghép có chủ ý. Phần nhìn được không hình thành theo cách đá tự nứt hoặc khoáng kết tụ.”
Lương Túc thêm: “Và có dấu sửa sau khi đã lắp.”
Hàn Tố Nghi đứng yên một lát. “Vậy thứ được truyền là rơi từ trời…”
Tạ Hoài Uyên nhìn mấy tầng vỏ lộ dưới lớp đất. “Có thể nó từng rơi xuống đây. Nhưng khối vật thể đang nằm trong núi này có người lắp ghép, không phải đá trời tự thành.”
Không ai hỏi ai chế tạo, cũng không có ai tự tiện đặt tên cho công dụng của nó. Hàn Tố Nghi gọi một người Tây Uyên có giấy, bút và thẻ đánh dấu tới. Nàng bảo người ấy chép vị trí khe, vẽ lại các lỗ chốt và đánh dấu điểm đá lở để canh giữ. Chỉ sau đó mới ra lệnh kéo thương binh về trạm.
Tạ Hoài Uyên được khiêng xuống qua khu rừng ẩm. Phía sau, hai người Cô Phong ở lại canh chỗ vách. Tiếng chim lúc nãy trở lại, lẫn với giọng những người gọi nhau ở đầu dốc.
Ở một nơi từng được ghi trong mọi sách địa phương là dấu vết của trời, họ vừa tìm thấy vết tay của kẻ nào đó.
Điều ấy làm Tạ Hoài Uyên thấy lạnh hơn cơn gió ngoài rừng một chút. Cảm giác không kéo dài. Hắn lại sốt, và suốt quãng xuống trạm chỉ có thể nhìn từng khoảng trời đan giữa cành cây.
Người đầu tiên Tạ Hoài Uyên gặp khi tỉnh lại là Thẩm Thanh Giản.
Nàng đang thay băng cho tay hắn, và rõ ràng đã làm việc ấy ít nhất một lần trong lúc hắn ngủ. Trong phòng có mùi thuốc sắc mới, trên bậu cửa sổ đặt hai chậu nước thay liên tục. Nắng bên ngoài đã nghiêng về chiều. Hơi nóng trong người không còn bốc lên từng đợt như ở dưới hạch, nhưng ngực vẫn có lúc nhịp nhanh rồi chậm bất thường.
“Ta ngủ bao lâu?”
“Gần một canh giờ.”
“Người khác?”
“Ngươi có thể hỏi ai trước không?”
“Tề Mặc.”
“Chân trái còn cảm giác. Lạnh ở mạch sâu hơn ta tưởng, mấy ngày tới không được đi tuyến. Ta đã ghi cho hắn biết.”
“Lạc Hành Chu?”
“Da bàn tay phải bị rách, vai trái căng thêm sau đoạn kéo dây. Cảm giác định hướng đã gần đều, nhưng thần hồn chưa được giải giới hạn. Hắn còn phải nằm lại theo dõi đêm nay.”
“Ninh Chiếu Tuyết?”
“Không có thương đáng kể, ngoài hai vệt trầy ở cẳng tay.” Thẩm Thanh Giản quấn nút băng cuối. “Nàng đã trở về báo ba người Cô Phong ngoài tuyến. Hà Sâm mỏi chân, Lương Túc bị bầm hai lòng bàn tay vì cọc gỗ. Bảy người trong nhóm không thiếu một ai.”
Tạ Hoài Uyên thở ra.
Thẩm Thanh Giản nhìn sắc mặt hắn, không nói gì về chuyện đã đoán được câu hỏi ấy từ trước. Nàng đặt lên án một ngọc phiến mỏng đã ghi y lệnh, cho hắn tự nhìn. Ở đó không có ngày khỏi thương, chỉ có những việc bị cấm rõ ràng: không vận kiếm, không ép linh lực qua nhánh tay vai bất ổn, không tự dẫn khí để thử ổn định nhịp tim, không khơi lại trạng thái đã bộc phát trong lòng khe. Phần cần xem lại được ghi cho sáng hôm sau.
“Còn cảnh giới?” Tạ Hoài Uyên hỏi.
“Vẫn Trúc Cơ trung kỳ. Nếu ngươi đang mong một trận sống sót đủ để phá cảnh thì ngươi tới nhầm y xá.”
“Ta không mong.”
“Được. Mong được sống tới buổi kiểm sau là đủ.”
Thẩm Thanh Giản cất hộp kim đi. Nàng không hỏi hắn đã làm gì để đứng được trong dòng lực đảo ở khoang đá, bởi lúc đó những gì nàng cần biết để cứu người đều đã được ghi. Tạ Hoài Uyên cũng không giải thích thêm. Đây là một giới hạn vừa đủ cho cả hai.
Ngoài sân y xá, có người gọi tên Tề Mặc. Hắn đáp lại, giọng khàn vì vừa bị bắt uống thuốc. Tiếng trò chuyện ấy khiến căn phòng bớt giống nơi cứu thương sau đại nạn. Không ai trong họ chết dưới Táng Tinh, nhưng phòng dược đã dùng hết một khay kim mới, ba cáng tre bị gãy một cái khi chuyển người, hai người ngoài trạm bị đá lở quệt thương. Một người Tây Uyên trẹo vai trong lúc mở lối cáng, phải bó lại.
Tạ Hoài Uyên không xem những thương tổn ấy là cái giá có thể gạch bỏ vì kết cục vẫn có bảy người quay về.
Tối đó Hàn Tố Nghi tới y xá, mang theo một cuộn giấy và chiếc túi niêm bọc vải thô. Bên ngoài túi có ba dấu: Tây Uyên, Huyền Lô và Quy Tàng. Nàng không đưa ngay cho Tạ Hoài Uyên mà đặt lên án cạnh cửa sổ, hỏi hắn có đủ sức nghe trong thời gian một chén trà không.
“Đủ.”
“Ta nói gọn.”
Từ ngoài, Tạ Hoài Uyên đã biết Hồi Âm Khe bị đóng hẳn. Hàn Tố Nghi xác nhận cả cửa lòng khe và sườn bắc đều không được phép vào; tuyến cũ, trụ cũ và các vỏ trụ đã mất không còn là cơ sở để mở lại. Người Cô Phong được tính công cứu hộ tới khi đội cuối ra hết, nhưng Hộ Tuyến Khế vẫn giữ phạm vi đã ký, không tự đổi thành quyền khai thác Táng Tinh. Tây Uyên đã cho canh vùng sườn nơi lớp vỏ lộ ra và ghi nhận thương tích của những người ngoài tuyến.
“Còn cái này.” Hàn Tố Nghi chạm tay lên túi niêm.
Thanh kim loại vàng xám được đem về trạm vẫn mang một vết rạn ở đầu phải. Khi đặt nó lên giá lót mềm, đầu rạn đã tự tách khỏi thân theo đúng đường nứt có sẵn. Không ai đập, cắt hay khoan để lấy mẫu. Phần lớn thanh được niêm riêng, có người của Tây Uyên và Huyền Lô cùng giữ. Đoạn nhỏ tách ra, dài chưa bằng đốt ngón tay, đã được cân và ghi vết gãy vào biên bản.
Lương Túc cùng người Huyền Lô đã kiểm vật bằng cách quan sát lớp xếp và cho một ngọc dẫn thường đến gần mà không rót lực. Phần kim loại không tự phát sáng, cũng chẳng hút sạch linh khí. Nhưng cách nó giữ hình và không xoắn lệch sau khi chịu hai dòng ngược đã đủ để xác định nhóm tính chất: một loại Định Mạch Kim hiếm gặp, chưa định được mỏ gốc hay cách luyện cũ.
“Không phải bảo vật trời cho.” Hàn Tố Nghi nói. “Là một cấu kiện có nguồn trong hiện trường do Tây Uyên quản. Việc xử lý nó đã cứu người, cũng làm mất một phần dấu ở chỗ cũ. Ta đã ghi cả hai.”
“Vậy vì sao mang mảnh nhỏ tới đây?”
“Quy Tàng có lời xin nhận giữ vật liệu ấy để khảo kiếm liệu. Tên người nhận do họ ghi là ngươi.” Hàn Tố Nghi nhìn hắn. “Ta cho giao bảo quản tạm, có niêm và ghi số, không cho luyện hay chuyển tay trước khi Hội quyết định quyền sử dụng. Nếu ngươi không muốn nhận phần ràng buộc, ta mang về.”
Tạ Hoài Uyên nhìn chiếc túi nhỏ. Nó không giống một thanh kiếm, cũng chẳng có hình dạng nào gợi tới bản mệnh binh khí. Chỉ một mẩu kim loại bị gãy khỏi thứ từng giữ hạch đen đứng giữa hai dòng lực. Người khác có lẽ sẽ muốn nó vì giá. Hắn muốn biết một ngày nào đó, nếu dùng nó giữ đường kiếm ổn định trong vùng linh lực thay đổi, liệu thân kiếm có thể cùng hắn đi một lối khác đời trước.
“Ta nhận bảo quản.”
Hàn Tố Nghi đẩy giấy sang. “Ký.”
Tạ Hoài Uyên dùng tay trái ký tên.
Hàn Tố Nghi nhận lại giấy, không tỏ ra chuyện một thiên tài Quy Tàng phải ký nhận một mảnh kim loại là đáng buồn cười. Ở Tây Uyên, cái gì được lấy từ đất và có thể làm thay đổi quyền của người khác thì không vì một người có công cứu mạng mà tự biến thành vật vô chủ.
Nàng cất cuộn giấy rồi nói thêm: “Đừng nghĩ ký được cái này là ngày mai đứng dậy luyện kiếm.”
“Tôi chưa nghĩ tới ngày mai.”
“Vậy tốt.”
Khi nàng đi rồi, Tạ Hoài Uyên để chiếc túi niêm bên cạnh gối. Hắn không tháo ra. Chỉ nghe tiếng kim loại chạm vào vải một lần lúc đặt xuống, nhỏ hơn cả tiếng lá tùng chạm khung cửa.
Sáng hôm sau, Tạ Hoài Uyên được phép ra hiên trong một khoảng ngắn.
Đêm qua hắn lên cơn sốt thêm hai lần. Lần thứ hai, hơi nóng chạy qua nhánh mạch dưới vai khiến hắn tỉnh ngay, bàn tay trái vô thức nắm chặt mép chăn. Thẩm Thanh Giản đến kiểm nhưng không thấy dấu huyết lực bộc phát trở lại. Nàng cho thuốc điều hòa nhịp, giữ hắn nằm tới khi ánh sớm qua cửa sổ. Vì vậy khoảng hiên nhỏ này không phải bằng chứng đã khỏi thương. Nó là phần thưởng rất vừa phải của một đêm không có diễn biến xấu hơn.
Ở sân đối diện, Tề Mặc ngồi với chân trái đặt lên ghế, đang chỉ cho Hà Sâm sửa cách thắt một sợi dây. Hai người nói qua nói lại mấy lần mới thống nhất được nút. Lương Túc đứng bên bàn gỗ, nửa nghe họ, nửa đọc lại bản ghi chỗ lớp vỏ Táng Tinh lộ ra. Không ai mang dụng cụ khảo sát vào y xá. Người nào còn việc giấy tờ thì làm trên bàn; không ai có quyền biến thân thể vừa ra khỏi khe thành lý do mở thêm một lượt thử.
Ninh Chiếu Tuyết trở lại từ cửa trạm, tay cầm bốn chiếc thẻ trực. Nàng nói với Hàn Tố Nghi đang đi ngang qua sân rằng Cô Phong có thể tiếp tục giữ ba vị trí ngoài tuyến trong lúc Tây Uyên đóng đường, nhưng muốn đổi ca trước vì người giữ cửa suốt đêm chưa được ngủ. Hàn Tố Nghi đồng ý. Nàng không phát cho Cô Phong quyền gì mới, song người trong sân đều nhìn thấy lời đề nghị ấy được chấp nhận như một việc bình thường.
Lạc Hành Chu ngồi dưới hành lang phía đông.
Tay phải hắn đã được băng lại. Trên án trước mặt chỉ có một miếng ngọc trắng đặt trên khăn, một chén nước và mấy tờ giấy trắng chưa viết. Thẩm Thanh Giản đã cấm hắn dùng thần thức, nên hắn không thử xem bên trong miếng ngọc đang có gì. Khi Lương Túc bước qua, hắn chỉ xoay mặt ngọc dưới nắng để xem vệt mờ có còn ở đúng chỗ cũ hay không.
“Không đọc được bằng mắt thì để sau.” Lương Túc nói.
“Ta đang xem nó có mất đi không.”
“Mất không?”
“Chưa.”
“Được.” Lương Túc đặt xuống một mẩu giấy nhỏ. “Đông Trạch có mấy thứ kim sa mềm giữ rung tốt hơn ngọc thường. Huyền Lô từng bán chúng cho trận sư. Nhưng ta chưa nói loại đó đáp được dấu của ngươi.”
“Ta biết.”
“Ta nói trước, kẻo ngươi lấy một vệt sáng đi đổi cả thuyền hàng.”
Lạc Hành Chu cuối cùng ngẩng lên. “Ngươi có thể báo giá khi ta hỏi.”
Lương Túc bật cười. “Vậy ta chờ.”
Tạ Hoài Uyên đứng cách họ một khoảng đủ để nghe, nhưng không tham gia. Hắn đã nhìn thấy cách Lạc Hành Chu giữ cả đoàn bằng sợi dây vàng mà không dùng thứ năng lực người kia vốn quen dựa vào. Miếng ngọc sáng mờ kia nếu có trở thành một con đường tu luyện mới, nó sẽ không xuất hiện chỉ vì Lạc chịu thêm đau. Từ giờ còn rất nhiều thứ hắn phải học bằng thân thể hiện tại.
Lạc Hành Chu cất miếng ngọc vào túi riêng rồi đứng lên. Cả hai nhìn nhau qua sân một lát.
“Ngươi ký nhận vật liệu rồi?” Lạc Hành Chu hỏi.
“Chỉ nhận giữ.”
“Vậy còn phải chờ.”
“Ừ. Còn ngươi?”
“Cũng chờ.”
Tạ Hoài Uyên nhìn bàn tay băng của hắn. “Chờ nó liền da hay chờ Thẩm Thanh Giản nới lệnh?”
“Cả hai. Nếu nói thiếu một, nàng sẽ kéo ta quay lại giường.”
Tạ Hoài Uyên nghĩ tới sắc mặt của Thẩm Thanh Giản tối qua. “Đó là việc nàng làm rất tốt.”
Lạc Hành Chu nhìn hắn, rồi liếc chiếc khăn quấn trên vai phải Tạ. “Ngươi cũng đừng thử.”
“Ta chưa cầm kiếm.”
“Ta biết.”
Tiếng chuông sớm từ thành Tây Uyên vọng tới, không đều vì gió đổi hướng. Hai người không bước lại gần hơn. Giữa họ vẫn có những chuyện chưa kể, những ký ức không thể đem ra đối chiếu trước mặt người khác. Nhưng ở dưới Vô Tinh Hạch, khi một người đưa kiếm vào dải chịu lực và một người giữ đường dây sau lưng, cả hai đã làm đúng phần mình mà không để lại khóa riêng để đề phòng người còn lại.
Hôm nay điều đó không cần được giải thích thêm.
Tạ Hoài Uyên trở vào phòng khi cơn mỏi ở vai bắt đầu rõ. Trên án có tấm bản đồ Tây Uyên được người của Hàn Tố Nghi gửi tới cùng phần ghi nhận đường thoát. Bên cạnh là bản địa đồ tuyến đường cũ hắn đã đem theo từ Quy Tàng. Mép dưới bản đồ vẫn đánh dấu Thanh Mạch Hành Lang đóng đỏ, còn bên rìa Hồi Âm Khe có một nét mực mới dẫn qua sườn rừng phía đông. Hà Sâm đã ghi tên mỏm đá ra được; Ninh Chiếu Tuyết ghi giờ và số người đã qua. Bảy tên người nằm trong cùng một dòng.
Tạ Hoài Uyên nhìn tấm bản đồ ấy lâu hơn chiếc túi niêm cạnh giường.
Trong ký ức đời trước của hắn, Táng Tinh Uyên vẫn là một tai biến đã mở đầu cho thứ huyết mạch hắn không khống chế nổi, kéo theo vô số việc hắn từng tin không thể thay đổi. Kiếp này, cơn nóng ấy vẫn tới. Nó không biến mất chỉ vì hắn đã chuẩn bị. Nhưng Tề Mặc còn sống, Ninh Chiếu Tuyết giữ được những người đáng lẽ hắn chẳng bao giờ có cơ hội cùng đi, và một con đường thoát hiểm đã tồn tại tại nơi bản đồ cũ bỏ trắng.
Hắn không xóa những dòng cũ trên bản địa đồ tuyến đường ấy.
Tạ Hoài Uyên cuộn bản địa đồ cũ lại, đặt bên cạnh bản vừa gửi. Hai tờ đều còn dùng được cho những việc khác nhau, nhưng từ nay hắn sẽ mang tờ mới khi bước ra đường.
Ngoài hiên, giọng Tề Mặc lại vang lên, đang tranh với Hà Sâm xem nút dây có cần thêm một vòng. Một giọng nữ từ sân khác đáp rằng nếu hai người còn sức cãi, lát nữa sẽ được giao việc quét trạm. Tiếng cười nổi lên rồi tắt.
Tạ Hoài Uyên đặt bút xuống chỗ Hà Sâm vừa vẽ lối qua Mỏm Đá Có Rễ, sửa một nét rẽ còn thiếu. Đầu bút thấm mực, để lại một đường nhỏ dẫn từ vùng đen ra phía rừng.
Hắn chờ mực khô rồi mới cuộn bản đồ lại.